Tư tưởng hòa bình trong triết học phương Tây cận hiện đại: Ý nghĩa và ứng dụng hiện nay

Tổng hợp kiến thức Tư tưởng hòa bình trong triết học phương Tây cận hiện đại và ý nghĩa của nó, tiếp cận khoa học, hỗ trợ học tập và nghiên cứu hiệu

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

CNDVBC & CNDVLS

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2014

159
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN TỚI NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Các công trình nghiên cứu về điều kiện và tiền đề ra đời tư tưởng hòa bình trong triết học phương Tây cận hiện đại

1.2. Các công trình nghiên cứu về nội dung tư tưởng hòa bình trong triết học phương Tây cận hiện đại

1.3. Các công trình nghiên cứu về ý nghĩa hiện thời của tư tưởng hòa bình trong triết học phương Tây cận hiện đại

2. CHƯƠNG 2: ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ RA ĐỜI TƯ TƯỞNG HÒA BÌNH TRONG TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY CẬN HIỆN ĐẠI

2.1. Điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa và chính trị cho sự ra đời tư tưởng hòa bình trong triết học phương Tây cận hiện đại

2.2. Tiền đề lý luận cho sự ra đời của tư tưởng hòa bình trong triết học phương Tây cận hiện đại

3. CHƯƠNG 3: TƯ TƯỞNG HÒA BÌNH TRONG TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY CẬN HIỆN ĐẠI

3.1. Tư tưởng hòa bình trong triết học Khai sáng Anh

3.2. Tư tưởng về hòa bình trong triết học Khai sáng Pháp

3.3. Tư tưởng hòa bình trong triết học cổ điển Đức

4. CHƯƠNG 4: Ý NGHĨA HIỆN THỜI CỦA TƯ TƯỞNG HÒA BÌNH TRONG TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY CẬN HIỆN ĐẠI

4.1. Những giá trị và hạn chế của tư tưởng hòa bình trong triết học phương Tây cận hiện đại

4.2. Sự kế thừa tư tưởng hòa bình trong triết học phương Tây cận hiện đại của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin

4.3. Xây dựng “văn hóa hòa bình” - sự kế tiếp và triển khai dự án “nền hòa bình vĩnh cửu” trong bối cảnh toàn cầu hóa

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tư tưởng hòa bình trong triết học phương Tây cận hiện đại

Tư tưởng hòa bình trong triết học phương Tây cận hiện đại được hình thành từ những điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa và chính trị của thời đại. Các triết gia như T. Saint Pierre, Montesquieu và J. đã đóng góp vào việc xây dựng nền tảng lý luận cho tư tưởng này. Họ nhấn mạnh rằng hòa bình không chỉ là sự vắng mặt của chiến tranh mà còn là một giá trị tinh thần cần thiết cho sự phát triển bền vững của xã hội. Tư tưởng hòa bình trong triết học Khai sáng Anh và Pháp đã chỉ ra rằng hòa bình là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển của nhân loại. Những quan điểm này đã tạo ra một nền tảng vững chắc cho việc xây dựng văn hóa hòa bình trong bối cảnh hiện đại.

1.1. Tư tưởng hòa bình trong triết học Khai sáng Anh

Triết học Khai sáng Anh đã đóng góp quan trọng vào tư tưởng hòa bình. Các triết gia như John Locke đã nhấn mạnh rằng quyền tự do và quyền con người là nền tảng cho hòa bình. Họ cho rằng, một xã hội hòa bình chỉ có thể được xây dựng khi mọi người được tôn trọng quyền lợi và tự do của mình. Locke đã viết: "Mọi người đều có quyền sống, tự do và sở hữu tài sản". Điều này cho thấy rằng, hòa bình không chỉ là một khái niệm trừu tượng mà còn là một thực tiễn cần thiết cho sự phát triển của xã hội. Tư tưởng này đã ảnh hưởng sâu sắc đến các phong trào dân chủ và nhân quyền sau này.

1.2. Tư tưởng hòa bình trong triết học Khai sáng Pháp

Tư tưởng hòa bình trong triết học Khai sáng Pháp cũng rất nổi bật. Montesquieu đã chỉ ra rằng, hòa bình là điều kiện cần thiết để phát triển văn minh. Ông cho rằng, các quốc gia cần phải hợp tác và tôn trọng lẫn nhau để duy trì hòa bình. Montesquieu đã viết: "Hòa bình là một trong những điều kiện cần thiết cho sự phát triển của xã hội". Tư tưởng này đã tạo ra một nền tảng vững chắc cho việc xây dựng các mối quan hệ quốc tế hòa bình và ổn định.

II. Ý nghĩa hiện thời của tư tưởng hòa bình

Tư tưởng hòa bình trong triết học phương Tây cận hiện đại có ý nghĩa sâu sắc trong bối cảnh hiện nay. Trong thời đại toàn cầu hóa, vấn đề chiến tranh và hòa bình trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Tư tưởng hòa bình không chỉ giúp con người nhận thức rõ hơn về giá trị của hòa bình mà còn là cơ sở để xây dựng một nền văn hóa hòa bình. Các triết gia đã chỉ ra rằng, hòa bình không chỉ là sự vắng mặt của chiến tranh mà còn là sự hiện diện của công lý và nhân quyền. Điều này có thể thấy rõ trong các phong trào xã hội hiện đại, nơi mà người dân kêu gọi hòa bình và công bằng xã hội.

2.1. Giá trị và hạn chế của tư tưởng hòa bình

Tư tưởng hòa bình mang lại nhiều giá trị cho xã hội hiện đại. Nó giúp con người nhận thức rõ hơn về tầm quan trọng của hòa bình trong việc xây dựng một xã hội công bằng và văn minh. Tuy nhiên, cũng cần nhận thức rằng tư tưởng hòa bình không phải là một giải pháp hoàn hảo. Trong nhiều trường hợp, các lực lượng phản tiến bộ vẫn tìm cách lợi dụng tư tưởng này để biện minh cho các hành động của mình. Do đó, việc phân tích và đánh giá tư tưởng hòa bình cần được thực hiện một cách cẩn thận và sâu sắc.

2.2. Xây dựng văn hóa hòa bình trong bối cảnh toàn cầu hóa

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, việc xây dựng văn hóa hòa bình trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Các quốc gia cần hợp tác để giải quyết các vấn đề toàn cầu như chiến tranh, nghèo đói và biến đổi khí hậu. Tư tưởng hòa bình trong triết học phương Tây cận hiện đại cung cấp những nguyên tắc cơ bản để xây dựng một nền văn hóa hòa bình. Điều này không chỉ giúp duy trì hòa bình mà còn tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự phát triển bền vững của nhân loại.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề bảo vệ hòa bình thế giới là nguyện vọng tha thiết và là một trong những mục đích và nhiệm vụ cấp bách của loài người hiện nay. Qua đó ông đã trình bày quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về chiến tranh, phân biệt chiến tranh chính nghĩa và chiến tranh phi nghĩa, ủng hộ chiến tranh chính nghĩa, phản đối chiến tranh phi nghĩa, cũng như tán thành hòa bình chân chính dựa trên cơ sở các dân tộc phải được độc lập tự do, phản đối “hòa bình” trong nô lệ [Xem: 92, tr. Đặc biệt, để xây dựng và bảo vệ nền hòa bình chân chính thì công tác bảo vệ hòa bình thế giới cần phải đặt trong thế tiến công của cách mạng thế giới. Trong bài viết “Chiến tranh và hòa bình trong lịch sử loài người” (1983), [50], tác giả Phan Ngọc Liên, Nguyễn Đình Lễ khẳng định, chiến tranh là một hiện tượng lịch sử xuất hiện khi xã hội có đối kháng giai cấp.

Nó trở thành chức năng thường xuyên của nhà nước, trở thành một thủ đoạn để 17 z củng cố, mở rộng quyền thống trị của giai cấp bóc lột và cướp bóc nhân dân nước khác. Đồng thời, các tác giả đã phân tích, khái quát những cuộc chiến tranh và tư tưởng về chiến tranh trong lịch sử loài người từ cổ đại đến thời hiện đại. Qua đó trình bày quan điểm về hòa bình, đường lối yêu chuộng hòa bình trên lập trường chủ nghĩa Mác - Lênin và khẳng định cuộc đấu tranh cho hòa bình của nhân loại và tiến bộ xã hội. Hay trong bài viết “Chủ nghĩa Mác - Lênin và vấn đề hòa bình” (1983), [49] tác giả Nguyễn Thành Lê khẳng định chiến tranh là một sản phẩm xã hội khi lịch sử loài người phát triển đến một trình độ nhất định, nó là sản phẩm của xã hội có sự phân chia thành giai cấp đối kháng, và trong xã hội tư bản thì chiến tranh là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản, nó như là một thuộc tính của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc.

Trong điều kiện hiện nay, theo tác giả cần, “khóa tay bọn đế quốc hiếu chiến, gìn giữ hòa bình, thực hiện hòa dịu trong quan hệ quốc tế trở thành những nhiệm vụ hàng đầu của thời đại” [49, tr. Đồng thời, tác giả cũng khẳng định hòa bình là sản phẩm của lao động, là sản phẩm của chủ nghĩa xã hội, hòa bình là bản chất của chế độ ta, là khát vọng của dân tộc Việt Nam. Bài viết “Những vấn đề chiến tranh và hòa bình trong thời đại ngày nay” của tác giả G. Srendin (1983), [89], đã phân tích, làm sáng tỏ hai vấn đề.

Một là, giữ gìn và củng cố hòa bình, làm dịu căng thẳng, ngăn chặn chiến tranh hạt nhân. Hai là, vấn đề đẩy nhanh tiến bộ xã hội và đổi mới cách mạng đối với thế giới. Trong đó, vấn đề chiến tranh và hòa bình là vấn đề đặc biệt quan trọng, đe dọa đến sự tồn vong của nhân loại đòi hỏi loài người phải chung tay chống lại cuộc chạy đua vũ trang và thảm họa hạt nhân cũng như sự nhất quán đường lối yêu chuộng hòa bình của Đảng Cộng sản Liên Xô. Có thể thấy, các công trình nghiên cứu trên khẳng định dù là chính nghĩa hay phi nghĩa, chiến tranh là sản phẩm của lịch sử, là chức năng của nhà 18 z nước.

Trong đó, chiến tranh phi nghĩa ngày nay đang đe dọa sự tồn vong của nhân loại đòi hỏi loài người phải chung tay chống lại các cuộc chay đua vũ trang, chống lại thảm họa hạt nhân để duy trì và bảo vệ nền hòa bình trên trái đất. Qua đó khẳng định một giá trị phổ biến đã được chủ nghĩa Mác - Lênin bàn tới như một chính sách của đường lối đối ngoại của đất nước từ những thập niên đầu thế kỷ XX, muốn hòa bình phải thực hiện nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình trong các chế độ chính trị khác nhau. Các công trình bàn về chiến tranh và hòa bình ở thời hiện đại Cuốn “Bàn về chiến tranh” của tác giả Các Phôn Clau Đơ Vít, Tập 1, 2 và 3 (1981, 1988 và 1989), [10, 11, 12]. Tác giả đã nghiên cứu chiến tranh trong các mối quan hệ của nó và đi đến kết luận đúng đắn rằng, chiến tranh là sự tiếp tục chính trị bằng thủ đoạn bạo lực, chính trị làm nảy sinh chiến tranh, còn chiến tranh là chính trị, là sự thay đổi ngòi bút bằng thanh kiếm.

Theo tác giả, chiến tranh không xuất hiện một cách bất ngờ mà được các chính phủ tương ứng chuẩn bị một cách lâu dài khi đang tiến hành một chính sách xác định. Không nên cho rằng quan hệ chính trị sẽ chấm dứt sau khi khởi xướng chiến tranh, vì quan hệ ấy thể hiện như một chỉnh thể, còn chiến tranh là một bộ phận của chỉnh thể đó. Chiến tranh có những đặc điểm mà chính trị có. Chính chính trị tạo ra chiến tranh, chứ không phải ngược lại.

Sau khi tuyên bố chiến tranh, trước khi có những hoạt động quân sự, chính phủ tiến hành một chính sách xác định nhằm thực hiện lợi ích của mình, và khi nó không đem lại kết quả mong muốn thì chính phủ chuyển sang hình thức chính trị khác là chiến tranh. Mục đích của chiến tranh là phá hủy chính sách của đối phương bằng những phương tiện quân sự. Được biết tới từ thế kỷ trước, cuốn “Thế giới như tôi thấy” mới đây đã được dịch và xuất bản bằng tiếng Việt (2005), [21]. Einstein đã tập hợp những bài viết, bài nói chuyện và các tiểu luận khoa học của Einstein bàn 19 z về khoa học, tư tưởng, tôn giáo và hòa bình quốc tế.

Đặc biệt phần chính trị và chủ nghĩa hòa bình, tác giả trình bày nhiều tư tưởng về chống chiến tranh, về giải trừ quân bị, về yêu chuộng hòa bình và cùng tồn tại hòa bình. Theo Einstein chiến tranh thật đê tiện và đáng khinh làm sao. Như trong bài “Hướng đến việc loại bỏ nguy cơ chiến tranh” theo tác giả thì chiến tranh có nghĩa là sự hủy diệt tất cả. Từ cuốn “Chiến tranh và chống chiến tranh” (1995), [96], tác giả Alvin và Heidi Toffler đã phân chia lịch sử loài người thành ba làn sóng (ba nền văn minh), và tương ứng với nó là ba hình thái chiến tranh.

Đồng thời, hai tác giả cũng chỉ ra ba hình thái chống chiến tranh, ba hình thái hòa bình tương ứng được tạo ra từ ba làn sóng. Đặc biệt ngày nay nhân loại đang bước vào nền văn minh thứ ba, làn sóng thứ ba với hình thái chiến tranh mới nhất thiết cần có hình thái chống chiến tranh mới, hình thái hòa bì nh trong thế kỷ XXI với vai trò đặc biệt quan trọng của Liên Hợp Quốc. Trong chương hai “Vấn đề chiến tranh và hòa bình” của cuốn sách “Những vấn đề toàn cầu ngày nay” (1999), [85] của mình, tác giả Nguyễn Trần Quế khẳng định vấn đề chiến tranh và hòa bình là một vấn đề then chốt nhất trong những vấn đề toàn cầu ngày nay, nó “quyết định đến sự tồn tại hay không tồn tại, sự phát triển hay không phát triển của xã hội loài người” [85, tr. Trên cơ sở trình bày khái quát những cuộc chiến tranh trong lịch sử loài người đặc biệt là hai cuộc thế chiến của thế kỷ XX, những loại vũ khí chiến tranh trong hiện tại và tương lai, cũng như thế giới sau chiến tranh lạnh với những mâu thuẫn gay gắt và xu thế mới trong quan hệ quốc tế hiện nay, tác giả đi đến khẳng định vai trò của Liên hợp quốc trong việc gìn giữ hòa bình, kiểm soát và giảm trừ quân bị, dự báo hai xu hướng chiến tranh và hòa bình trong tương lai.

Đó là xu hướng chủ nghĩa dân tộc, chủ nghịa vị kỷ, chủ nghĩa địa phương ngóc đầu dậy ở nội bộ phần nhiều quốc gia và sự tăng cường thế 20 z lực hồi giáo kết hợp lại thành một trào lưu ngược khổng lồ tạo ra thách thức đối với nền hòa bình thế giới. Khả năng chiến tranh lớn sẽ dễ dàng xảy ra khi thế giới chuyển thành đa cực. Xu hướng thứ hai sau chiến tranh lạnh kết thúc, đám cháy dần dần sẽ lắng dịu đi và đi vào trật tự. Thế giới sẽ được hòa bình.

Cuối cùng, để thế giới đi vào hòa bình và ổn định theo tác giả cần phải có tư duy mới về an ninh toàn cầu. Đó là nền an ninh toàn cầu bao gồm 5 lĩnh vực (quân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường - sinh thái); Qúa trình mở cửa hội nhập của các quốc gia vào nền kinh tế thế giới là một xu hướng toàn cầu không thể đảo ngược; “Sự tồn tại của trái đất, hòa bình của nhân loại và chủ nghĩa thống nhất thế giới đang trở thành 3 giá trị phổ quát của nhân loại… Toàn thể loài người đã tìm thấy kẻ thù chung của mình: nguy cơ chiến tranh hủy diệt toàn cầu, chủ nghĩa ly khai và khủng bố, nạn ô nhiễm môi trường sinh thái đang đe dọa sự tồn tại của nhân loại. Ba kẻ thù chung đó đang thách thức loài người, thách thức sự tồn tại của trái đất và nền văn minh nhân loại” [85, tr. Hơn bao giờ hết, thời đại ngày nay đòi hỏi phải khắc phục chiến tranh, củng cố hòa bình để phát triển.

Đó là yêu cầu tiên quyết để đạt tới sự thịnh vượng về kinh tế và tiến bộ xã hội [Xem: 85, tr. Trong sách “Vài suy ngẫm về thế giới trong thế kỷ XX và thế kỷ XXI” (2000), [117], tác giả Hồ Vũ đã tập trung phân tích khái quát những cuộc chiến tranh, xung đột trong thế kỷ XX, với những hậu quả nặng nề mà chiến tranh để lại và nguyên nhân của nó không nằm ngoài mưu đồ thống trị và bá chủ thế giới của các nước đế quốc, đặc biệt là Mỹ. Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra rằng, trong thế kỷ XX, không chỉ có chiến tranh mà còn có hòa bình, mặc dù nó chỉ là tương đối và mong manh [Xem: 117, tr. 56], cũng như đã gần 2 phần 3 thế kỷ nay, thế giới chưa bị rơi vào cuộc chiến tranh thế giới lần thứ ba, mặc dù đã không ít lần bị đẩy đến bên “miệng hố chiến tranh” [117, tr.

Qua đó, tác giả tổng kết, thế kỷ thứ XX, xu thế hòa bình đấu tranh quyết 21 z liệt chống lại các ý đồ gây chiến, khát vọng của nhân dân thế giới về hòa bình, hợp tác để phát triển ngày một gia tăng. Cuối cùng tác giả cho rằng, nhân loại bước sang thế kỷ XXI vẫn có căn cứ để hy vọng, sẽ tránh được khả năng nổ ra chiến tranh thế giới.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Tư tưởng hòa bình trong triết học phương Tây cận hiện đại: Ý nghĩa và ứng dụng hiện nay" của tác giả Nguyễn Đắc Lý, dưới sự hướng dẫn của TS. Trần Văn Phòng và TS. Nguyễn Quang Hưng, trình bày những quan điểm sâu sắc về tư tưởng hòa bình trong triết học phương Tây, đặc biệt là trong bối cảnh hiện đại. Bài luận án không chỉ phân tích các khái niệm triết học mà còn chỉ ra ý nghĩa và ứng dụng của chúng trong xã hội ngày nay, từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về vai trò của tư tưởng hòa bình trong việc xây dựng một thế giới hòa bình và phát triển bền vững.

Để mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh liên quan, bạn có thể tham khảo bài viết Luận Văn Đánh Giá Cán Bộ Công Chức: Phân Tích Lý Luận và Thực Tiễn, nơi đề cập đến các lý luận và thực tiễn trong công tác cán bộ, có thể liên quan đến việc áp dụng tư tưởng hòa bình trong quản lý nhà nước. Ngoài ra, bài viết Luận án tiến sĩ về quan hệ Mỹ - Cuba từ 1991 đến 2016 cũng cung cấp cái nhìn về các mối quan hệ quốc tế và cách thức mà tư tưởng hòa bình có thể ảnh hưởng đến chính sách đối ngoại. Cuối cùng, bài viết Nhu cầu thành đạt nghề nghiệp của sĩ quan trẻ quân đội nhân dân Việt Nam có thể giúp bạn hiểu thêm về vai trò của tư tưởng hòa bình trong việc định hình sự nghiệp và phát triển cá nhân trong môi trường quân đội.

Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức mà còn mở ra nhiều góc nhìn mới về tư tưởng hòa bình và ứng dụng của nó trong các lĩnh vực khác nhau.