phần mở đầu, phần nội dung chính (gồm có hai chương, mỗi chương 3 tiết), phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo. 8 CHƢƠNG 1 NHỮNG TIỀN ĐỀ LỊCH SỬ CỦA TRIẾT HỌC I. KANT VÀ TÁC PHẨM PHÊ PHÁN LÝ TÍNH THỰC HÀNH 1. Những tiền đề lịch sử của triết học I.
Kant Triết học cũng như bất kỳ các khoa học cụ thể khác đều phải xuất phát từ mảnh đất hiện thực, lấy hiện thực của cuộc sống con người và xã hội làm cơ sở cho sự nghiên cứu của mình. Một giá trị khoa học đích thực phải lấy con người làm trung tâm, phải phục vụ cho con người. Trong lịch sử phát triển của triết học những học thuyết triết học nào biết hóa thân vào thực tiễn xã hội, biến nhận thức thành hành động làm thay đổi tư duy con người thường là những học thuyết tích cực và ưu việt. Như vậy, triết học sản sinh ra từ hiện thực xã hội nên muốn hiểu về tư tưởng của một triết gia hay một trường phái triết học thì nhất thiết phải tìm hiểu hiện thực xã hội mà từ đó học thuyết triết học ấy xuất hiện.
Đây thậm chí còn là điểm quan trọng bậc nhất khi bắt tay vào nghiên cứu tư tưởng của một triết gia cụ thể, và việc tìm hiểu những điều kiện và tiền đề cho sự ra đời triết học Kant cũng không phải là ngoại lệ. Kant sinh năm 1724, mất năm 1804 trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản sau khi xuất hiện đã được thiết lập một cách chắc chắn ở những nước Tây Âu. Nước Đức với sự chìm đắm quá lâu ở chế độ phong kiến với tính chất tự cấp tự túc đã không thể đáp ứng nổi với những nhu cầu ngày càng gia tăng của con người. Sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản thật sự đã phá vỡ những kìm kẹp bấy lâu của những con người cá nhân.
Sự sáng tạo, phát triển vượt bậc trong lưu thông hàng hóa cộng với sức sản xuất lần đầu tiên có sự giúp đỡ của máy móc đã đem lại một nền sản xuất phát triển chưa từng có trong lịch sử loài người. Toàn bộ số lượng sản phẩm mà con người làm ra từ trước tới nay cũng chỉ bằng sức sản xuất trong giai đoạn này. Chế độ tư bản 9 chủ nghĩa đã có màn ra mắt không thể ấn tượng hơn với xã hội loài người, nó chứng minh và khẳng định rằng nó là chế độ ưu việt hơn hẳn so với toàn bộ các chế độ xã hội trước đó mà con người từng trải qua (ít nhất là trên phương diện kinh tế). Cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh và cách mạng tư sản Pháp cùng với những thành tựu văn hóa kinh tế ở thời kỳ này đã chứng minh cho khả năng và sức mạnh của con người là vô cùng to lớn.
Con người cá nhân ra đời và một thời đại mới cũng ra đời, thời đại của nền văn minh công nghiệp đầu tiên trong lịch sử nhân loại. Trong khi chủ nghĩa tư bản đã xuất hiện và được thiết lập ở các nước Tây Âu như Anh, Pháp, Ý… và làm thay đổi hầu như toàn bộ đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của các nước này thì nước Đức đến đầu thế kỷ XIX vẫn là một quốc gia lạc hậu về kinh tế. Tới thời điểm này, nước Đức vẫn là một quốc gia phong kiến. Chính quyền của vua Phridrich Vinhem là thể chế quân chủ vì vậy mà bộ máy này ra sức níu giữ quyền lực của mình bằng những luật lệ hà khắc.
Chính quyền Phổ lúc bấy giờ dùng mọi biện pháp để ngăn cấm đất nước chuyển mình sang chế độ tư bản. Việc cố gắng duy trì thể chế quân chủ phong kiến thối nát của chính quyền vua Vinhem đã gây ra hệ quả nghiêm trọng cho sự phát triển của nước Đức so với các nước Châu Âu thời bấy giờ. Công nghiệp Đức đình trệ, kinh tế chậm phát triển, nông nghiệp sa sút. Sự thối nát và bảo thủ của kiến trúc thượng tầng nước Đức bấy giờ gây nên một sự phẫn nộ vô cùng to lớn cho toàn thể nhân dân Đức.
Sự mâu thuẫn bị dồn nén của những người lao động Đức với chính quyền quân chủ Phổ báo hiệu một sự thay đổi to lớn sắp sửa diễn ra. Đứng chân trên một hiện thực xã hội như nước Đức lúc bấy giờ, thật khó có thể tin rằng nền văn hóa nghệ thuật và tư tưởng của nước Đức lại vô cùng phát triển. Mặc dù nền kinh tế bị lạc hậu, nền chính trị bảo thủ và thối nát nhưng nước Đức thời kỳ này đã đạt được những sự phát triển chưa từng thấy về triết học, văn học, nghệ thuật. Nước Đức đã sản sinh ra các nhà tư 10 tưởng nổi tiếng như Hécđơ, Gớt, Sinlơ, Kant.
Đây không chỉ là các nhà triết học nổi tiếng mà còn là các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng. Sinh ra trong giai đoạn mà bối cảnh nước Đức đang đi đến sự khủng hoảng tột độ, các nhà tư tưởng thời kỳ này đem lại cho những tác phẩm triết học, văn học của mình một khát khao của tầng lớp tư sản muốn vươn lên khỏi sự kìm kẹp của của hệ thống chính trị quân chủ và nền kinh tế phong kiến lạc hậu. Thêm vào đó, những nhà tư tưởng thời kỳ này cũng tiếp thu và phát triển những học thuyết, tư tưởng của nền văn hóa truyền thống. Tư tưởng mọc trên mảnh đất hiện thực, phản ánh hiện thực xã hội.
Hiện thực xã hội là cái gốc của mọi nền văn hóa. Tuy vậy, điều đó không có nghĩa là tư tưởng lúc nào cũng đi sau thực tiễn xã hội, ngược lại, tư tưởng nhiều khi phải đi trước thực tiễn xã hội để làm vai trò người dẫn đường cho những bước phát triển tiếp theo của xã hội. Nếu không có sự đi trước của tư tưởng thì thực tiễn xã hội phải tự tìm đường đi cho mình. Một thực tiễn mò mẫm như vậy ắt sẽ không thể đưa đến sự phát triển nhanh chóng được.
Vì vậy tư tưởng tuy xuất phát từ mảnh đất hiện thực nhưng cần phải vượt lên trên và đi trước hiện thực. Điều đó lý giải một phần tại sao nước Đức vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX với những sự khủng hoảng của nền kinh tế và chính trị nhưng lại chứng kiến một thời kỳ nở rộ chưa từng thấy về tư tưởng. Các nhà tư tưởng của nước Đức bấy giờ nói chung đều thể hiện một tinh thần phẫn nộ chống lại sự trì trệ và thối nát của xã hội. Tư tưởng của họ là ý chí và nguyện vọng của tầng lớp tư sản.
Những tư tưởng khai sáng Pháp và cuộc cách mạng tư sản Pháp (1789 – 1794) tác động mạnh mẽ đến các tầng lớp nhân dân Đức thức tỉnh họ đấu tranh vì một trật tự xã hội mới tốt đẹp hơn. Khoa học tự nhiên là một trong những nhân tố có ảnh hưởng lớn đến tư tưởng triết học của các triết gia Đức trong giai đoạn bấy giờ. Những tiến bộ vượt bậc của các ngành khoa học kỹ thuật, đặc biệt là khoa học tự nhiên đã đánh đổ những thành trì của phương pháp tư duy siêu hình thế kỷ XV – 11 XVIII. Sự thống trị của phương pháp tư duy siêu hình trong tư tưởng của các triết gia Tây Âu trong suốt nhiều thế kỷ đã không thể đứng vững được nữa.
Các phát minh khoa học như sự bảo toàn và chuyển hóa năng lượng, học thuyết tế bào… đã đòi hỏi một phương pháp tư duy biện chứng đối lập lại với tư duy siêu hình trước đây. Bên cạnh đó, sự phát minh ra điện và cách sử dụng điện là bước nhảy vọt trong lịch sử văn minh loài người. Các ngành công nghiệp đã không chỉ dừng lại ở việc sản xuất với sự giúp đỡ của máy hơi nước nữa mà giờ đây còn có các máy móc chạy bằng điện năng. Điều đó làm thay đổi căn bản nền sản xuất, chuyển từ sản xuất công trường thủ công tiến tới công nghiệp cơ khí mà sau nay sẽ là nền đại công nghiệp.
Sức sản xuất vì vậy mà càng được tăng lên một cách nhanh chóng. Sự phát hiện ra điện năng cũng chính là những yếu tố khoa học đầu tiên chứng thực về thuyết bảo toàn và biến hóa năng lượng và vật chất của vũ trụ. Các khoa học cụ thể như sinh vật học, hóa học cũng có những phát minh mới làm lung lay đến tận gốc rễ phương pháp tư duy siêu hình trước đây. Tất cả những yếu tố ấy đòi hỏi con người phải có những phương pháp tư duy mới để có thể lý giải và nắm bắt được bản chất thực sự của sự sống.
Sự phát triển của khoa học tự nhiên thực sự đã có vai trò to lớn đối với tư duy triết học. Những thành tựu của khoa học tự nhiên đã chứng minh rằng những hiểu biết của con người về thế giới trong những giai đoạn trước đây là không đầy đủ, thậm chí còn là sai lầm. Con người đang sống trong một thế giới với đầy đủ những sự phức tạp và tinh vi của nó, những hiện tượng, những sự vật tưởng như đơn độc lại có mối quan hệ với nhau, thế giới tưởng như là đã được định đoạt lại hóa ra vẫn nằm trong quá trình phát triển vô tận…. Vì vậy mà phương pháp tư duy siêu hình của thế kỷ trước của triết học đem đến cho nhận thức khoa học để chỉ đường cho khoa học là phiến diện và lạc hậu.
Đương nhiên chúng ta cũng không thể phủ nhận hoàn toàn những đóng góp mà phương pháp tư duy siêu hình đem lại. Việc nghiên cứu khoa học cụ thể 12 về một đối tượng như là những sự vật hiện tượng cụ thể yêu cầu phải tách biệt một cách tạm thời đối tượng ấy với các đối tượng khác, như vậy chúng ta mới tìm ra được bản chất thực sự của đối tượng đang nghiên cứu, như vậy chúng ta mới biết được đối tượng này khác đối tượng khác ở điểm nào. Và về phương diện này, phương pháp tư duy siêu hình lại tỏ ra khá ưu việt. Nhờ phương pháp này mà những khoa học cụ thể đã có những sự nghiên cứu chuyên sâu, bức tranh thế giới tuy mới chỉ là những mảnh ghép nhưng đã đạt được sự rõ ràng nhất định.
Tuy nhiên, hạn chế của phương pháp tư duy siêu hình cũng như phương pháp nghiên cứu của các khoa học cụ thể chính là việc sau khi đi sâu tìm hiểu một cách độc lập trong lĩnh vực của mình lại dừng lại ở đây và xem đây là chân lý của khoa học, là bức tranh toàn thể của thế giới, là chân lý và bản chất của sự sống.