CHƯƠNG 1 SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC FRIEDRICH NIETZSCHE 1. Bối cảnh thời đại Marx viết: “Các nhà triết học không phải là những cây nấm mọc trên đất. Họ là những sản phẩm của thời đại mình, dân tộc mình, mà những tinh lực quý giá nhất và khó thấy nhất đã được suy tư trong các khái niệm triết học” [27, tr. Vâng, mỗi thời đại sinh ra những anh hùng, những tư tưởng nảy mầm trên từng mảnh đất của những con người sống trong thời đại ấy.
Tất cả chính là những tinh túy, là niềm trăn trở của các bậc vĩ nhân, dẫn nhân loại bước lên những nấc thang mới của sự phát triển. Một tất yếu lịch sử ở thế kỷ XIX là sự ra đời của triết học Mác, khi châu Âu đang trong giai đoạn đầy biến động về tất cả mọi mặt của những vấn đề nóng bỏng của thời đại, đó là: Thân phận con người sẽ như thế nào? Xã hội loài người sẽ đi về đâu? Người ta nói rằng, thế kỷ XIX là thế kỷ của những biến đổi mạnh mẽ của tinh thần lẫn vật chất, từ chính trị đến kinh tế, khoa học – kỹ thuật ở châu Âu. Làm thay đổi toàn bộ bộ mặt, cũng như đã phủ lên đời sống của con người châu Âu một lớp áo mới – một sự chuyển đổi mới mẻ về chiều sâu tâm lý, quan niệm sống và cảm xúc. Thế kỷ mà chủ nghĩa tư bản xác lập địa vị thống trị của mình, dần chuyển sang chủ nghĩa đế quốc – giai đoạn tột cùng của nó.
Chủ nghĩa tư bản tạo ra một lực lượng sản xuất đồ sộ gấp nhiều lần lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước gộp lại. Nền sản xuất mang tính xã hội hóa ngày càng cao, kéo theo sự bóc lột ngày càng tinh vi hơn, sự phân hóa giàu nghèo vì thế cũng ngày càng gay gắt. Thế kỷ XIX cũng là thế kỷ mà sự phát triển của khoa học liên tiếp phục vụ cho sự phát triển của sản xuất. Những phát minh về hóa học, vật lý thúc đẩy ngành cơ khí chế tạo phát triển, đưa lại bước tiến mới chưa từng thấy về năng suất lao động, sản phẩm tăng đột biến, cơ sở kỹ thuật của nền sản xuất đổi mới, hiện đại.
Như ngọn lửa bỗng dưng bừng sáng vào những năm 40 của thế kỷ XIX, nước Anh trở thành cường quốc của kỹ thuật. Sự thắng lợi của cuộc cách mạng Công nghiệp đã đưa tri thức và khoa học lên tầng cao mới. n Trong bức màn đêm trung thế kỷ, Kytô giáo là cột trụ tinh thần của người châu Âu. Chúa là đấng cứu thế duy nhất cho đời sống khổ đau của con người.
Khi chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh mẽ, khoa học tự nhiên tiến những bước dài, dẫn đến sự tan rã của tín ngưỡng Kytô giáo. Ở thế kỷ này, khi giai cấp tư sản ráo riết chống Tôn giáo thì người ta lại tìm cách khôi phục lại những tín điều, những quan niệm hẹp hòi từ truyền thống Kytô giáo. Họ làm sống lại niềm tin của Chúa, những ma lực thần thánh đã một thời điều khiển toàn bộ hoạt động của con người. Quan điểm mới về thần thánh lúc bấy giờ chỉ khác với thời Trung cổ ở chỗ: sự mặc khải trong ánh điện thay thế cho sự mặc khải trong ánh sáng nhập nhòe của nến.
Khi khoa học tự nhiên phát triển, chủ nghĩa kinh nghiệm và chủ nghĩa duy lý tính được phản ánh trong triết học đã làm lung lay về căn bản cơ sở tín ngưỡng Kytô giáo, mọi giá trị truyền thống tan rã, người ta ngày càng cảm thấy mất đi ý nghĩa đã từng được xác định. Con người hầu như trong trạng thái chân không không nơi nương tựa. Nghĩa là, trong lòng châu Âu nhen nhóm tư tưởng chống lại tư tưởng của Kytô giáo, cùng với sự xuất hiện những vĩ nhân và các học thuyết mang tầm vóc thời đại. Một thế kỷ mà châu Âu gần như sôi sùng sục trong chảo lửa của cả sự phát triển, đấu tranh và tiêu diệt.
Một thế kỷ gắn với nhiều đổi thay, không chỉ lái châu Âu sang một ngã rẽ mới mà còn làm cho thế giới cũng chịu những tác động không nhỏ, khi: “Máy móc có sức mạnh kỳ diệu trong việc giảm bớt lao động của con người, và làm cho lao động của con người có kết quả hơn, thì lại đem lại nạn đói và tình trạng kiệt quệ đến cho con người. Những nguồn của cải mới từ xưa đến nay chưa ai biết, dường như có một sức mạnh kỳ diệu nào đó lại đang biến thành nguồn gốc của sự nghèo khổ. Những thắng lợi của kỹ thuật dường như lại được mua bằng cái giá của sự thay đổi về mặt tinh thần” [26, tr. Sự phát triển của khoa học kỹ thuật làm vơi đi gánh nặng của đời sống xã hội, song ở những điều kiện xác định lại làm cho chính cuộc sống bị tiêu diệt.
Lúc này, các thành tựu mà con người tạo ra gần như quay lại chống con người. Niềm tin bị khủng hoảng, khi mọi thứ ngày càng hiện đại thì chính con người ngày càng bị tha hóa: “Sự đảo lộn liên tiếp của sản xuất, sự rung chuyển không ngừng của tất cả các quan hệ xã hội, sự luôn luôn hoài nghi và sự vận động làm cho thời đại tư sản khác với tất cả các thời đại trước. Tất cả các quan hệ xã hội cứng đờ và hoen rỉ, với cả tràng quan niệm về tư tưởng được tôn sùng từ nghìn xưa đi kèm những quan hệ ấy đều đang tiêu tan; những quan hệ xã hội thay thế, những quan hệ đó chưa kịp cứng thì đã già cỗi ngay. Tất cả những gì mang tính đẳng cấp và trì n trệ đều tan biến như mây khói.
Tất cả những gì thiêng liêng đều bị ô uế và rút cuộc mọi người đều phải buộc nhìn những điều kiện sinh hoạt của họ và những quan hệ giữa họ với nhau bằng con mắt tỉnh táo” [25, tr. Bản chất của chế độ mới ngày càng lộ liễu. Từ thành tựu rực rỡ của khoa học, cả châu Âu đề cao lý tính, mọi người cần đến chân lý khoa học hơn là những gì có trong thần thoại về cuộc sống mà ở đó có vẻ như dễ sống hơn. Bằng việc vận dụng những quy luật của lý tính, có thể quản lý được tự nhiên và phát triển không hạn chế các năng lực tinh thần và thể chất của con người.
Châu Âu cận đại là thời đại chủ nghĩa lý tính thịnh hành, “tri thức là sức mạnh” của Bacon vang dội lên chín tầng mây, hầu như tri thức là tâm linh của con người. Một thời gian, loài người trở thành đức Chúa trời chân chính của thế giới. Với loài người, lúc ấy như vừa thoát ra khỏi tín ngưỡng “Thuyết chúa sáng tạo thế giới”, như là đã được giải phóng. Loài người lúc này không một chút lo lắng, lòng đầy tin tưởng khi sống trong một thời đại đầy hy vọng.
Sự tin phục ở khoa học của con người đã thay thế tín ngưỡng Tôn giáo, họ hiểu rằng khoa học và lý tính có thể đem lại hạnh phúc cho con người. Tuy nhiên, sau khi lịch sử bước vào ngưỡng cửa của thế kỷ mới, đặc biệt sau khi trải qua hai cuộc Đại chiến thế giới, người ta phát hiện, khoa học không phải là vạn năng, sự phồn vinh vật chất đơn thuần chỉ có thể tạo ra hạnh phúc giả tạo và biến con người thành nô lệ của máy móc, con người dần bị tha hóa. Châu Âu lún sâu vào cuộc khủng hoảng tín ngưỡng và khủng hoảng giá trị chưa từng có, thực chất của cuộc khủng hoảng là sự tan rã của quan niệm truyền thống của giai cấp tư sản. Người châu Âu bàng hoàng, đau buồn, hoang mang không biết đi theo hướng nào trước sự hoang tàn đổ nát của giá trị truyền thống.
Các nhà tư tưởng đã nhìn nhận và phê phán những mặt trái của chủ nghĩa tư bản, lúc bấy giờ cũng xuất hiện nhiều xu hướng khác nhau. Một số nhà tư tưởng thì muốn quay lại thời kỳ phong kiến; một số vừa muốn xóa bỏ những khuyết tật của xã hội tư bản vừa muốn duy trì nền thống trị này; một số khẳng định rằng có thể xóa bỏ mâu thuẫn giữa hai giai cấp tư sản và vô sản…; các triết gia cổ điển Đức đưa ra phương án giải quyết bằng ý chí, nguyện vọng; còn các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng thì muốn thay thế bằng một xã hội công bằng hơn nhưng không thấy được nguyên nhân dẫn đến xã hội bất công lúc bấy giờ… Từ thập kỷ 40 của thế kỷ XIX, Marx đã vạch rõ hiện tượng tha hóa của con người phía sau sự phồn vinh vật chất của chủ nghĩa tư bản, xác nhận nguồn gốc của nó là chế độ kinh tế và chế độ chính trị của chủ nghĩa tư bản, là chế độ phân công lao động và chế độ tư hữu. Và n Marx cũng đã rút ra kết luận về cuộc cách mạng xã hội. Đến cuối thế kỷ XIX, khi Cách mạng tháng Mười bùng nổ, một thời đại mới đã được mở ra.
Bức tranh châu Âu thế kỷ XIX chứa đựng đầy đủ các khía cạnh, màu sắc của xã hội và con người ở châu Âu lúc bấy giờ. Một giai đoạn lịch sử đầy biến động, những vấn đề kinh tế nóng bỏng cùng sự xoay đổi giá trị và thân phận con người. Từ bức tranh toàn cảnh này, ta có cơ sở để tìm hiểu thấu đáo hơn tư tưởng của nhà triết học người Đức - Friedrich Nietzsche, một con người dám dấy lên tiếng chuông đổi thay cuộc sống hiện tại; một nhà tư tưởng làm nên dấu ấn của thời đại, luôn khao khát tìm ra giá trị đích thực của cuộc sống mà đầu tiên là giá trị của con người. Friedrich Nietzsche và quá trình hình thành tư tưởng về con người 1.
Sơ lược tiểu sử Friedrich Nietzsche Friedrich Nietzsche là nhà triết học, nhà thơ nổi tiếng nước Đức, nhà tư tưởng lớn thời cận đại. Sinh ngày 15 tháng 10 năm 1844 ở Roecken, miền Trung nước Đức, tức miền Thuringe, nơi phát xuất phong trào cải cách. Sinh ra trong buổi giao thời thế kỷ từ chủ nghĩa tự do quá độ lên chủ nghĩa đế quốc, nhà triết học giàu tính chiến đấu này đã rất nhạy cảm trước sự thối nát của thời cuộc. Ông say mê khai thác, tìm tòi, xác định lại ý nghĩa cuộc sống trong khi các giá trị truyền thống đang dần mất đi.
Cha là mục sư, nên ông được giáo dục rất cẩn thận về trí dục và đức dục. Friedrich Nietzsche sinh đúng ngày sinh nhật của Quốc vương, bố của ông rất yêu mến và đặt nhiều niềm tin vào người con của mình.