Chương 1: Sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Đan Phượng trong thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở (2001-2008). Chương 2: Đảng bộ huyện Đan Phượng tăng cường lãnh đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở (2008-2012). Chương 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm. ~ 14 ~ z Chƣơng 1: SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN ĐAN PHƢỢNG TRONG THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ (2001-2008) 1.
Một số khái niệm có liên quan Thứ nhất, khái niệm “dân chủ” : Thuật ngữ dân chủ ra đời vào khoảng thế kỷ thứ VI, VII TCN. Theo đánh giá của Arustotle (384 - 322 TCN) thì Solon (khoảng 638 - 559 TCN) là người đầu tiên đặt nền tảng cho nguyên lý dân chủ. Solon mong muốn xây dựng một nhà nước trên cơ sở một nền dân chủ thông qua tuyển cử và hòa nhập sức mạnh với pháp luật. Lý thuyết về dân chủ đã trải qua quá trình phát triển lâu dài trong lịch sử nhân loại.
Những giá trị của dân chủ là kết quả cuộc đấu tranh bền bỉ của các lực lượng tiến bộ chống lại các thế lực phản động. Việc thực thi nền dân chủ của nhân loại được bắt đầu từ xã hội Athen cổ đại. “Dân chủ” theo gốc tiếng Hy Lạp là "demokratia" nghĩa là quyền lực thuộc về nhân dân. Nhân dân có quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến cuộc sống, bản thân và xã hội, được tham dự trực tiếp vào hoạt động của nhà nước.
Tuy nhiên, đối tượng người dân được thực thi quyền dân chủ trong xã hội Hy Lạp chỉ bao gồm một bộ phận nhỏ những người có tài sản và là công dân tự do. Dân chủ không dành cho nô lệ, hay dân ngụ cư- vốn là thành phần chiếm số đông trong xã hội. Tương tự như vậy, ở La Mã cổ đại, chỉ tầng lớp hữu sản mới được tham gia đại hội nhân dân. Khái niệm “dân chủ” được hiểu là “một thể chế do dân làm chủ” chỉ xuất hiện trong cách mạng tư sản.
Tại M , cựu Tổng thống Abraham Lincoln tuyên bố “dân chủ” là một chính quyền của dân, do dân và vì dân, đối lập với chế độ độc tài. Tiếp đó, cựu Tổng thống R. Reagan cũng cho rằng: “dân chủ” không chỉ là biện pháp cai trị mà còn là biện pháp giới hạn quyền lực của chính phủ để nó không ngăn cản sự phát triển những giá trị quan trọng nhất mà con người nhận được từ gia đình và nhà trường. Chủ nghĩa Mác- Lênin coi “dân chủ” là một hình thức chính quyền dựa trên nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số và thừa nhận quyền tự do và bình đẳng của công dân.
Tuy nhiên, dân chủ cần được đặt trong mối liên hệ với pháp luật. Pháp luật là điều kiện quan trọng đảm bảo việc thực hiện dân chủ. ~ 15 ~ z Dân chủ bao giờ cũng được biểu hiện trong thực tiễn hết sức phong phú, đa dạng với những trình độ, cấp độ rất khác nhau. Nền dân chủ của các xã hội khác nhau có những nét tương đồng nhưng cũng có những nét khác biệt.
Chính những nét tương đồng và những đặc điểm chung làm nên tính phổ quát của dân chủ. Không có một nền dân chủ chung chung, không bản sắc, phù hợp với mọi quốc gia, mọi dân tộc. Do đó, quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin cho rằng không thể mang nền dân chủ của xã hội này làm khuôn mẫu áp đặt cho nền dân chủ của xã hội khác. Thứ hai, về “dân chủ xã hội chủ nghĩa”: Dân chủ XHCN là bản chất của chế độ, xã hội mới.
Xây dựng nền dân chủ XHCN là một trong những nhiệm vụ lâu dài và trọng yếu của các thể chế đi theo định hướng XHCN, đảm bảo tất cả quyền lực thuộc về quần chúng nhân dân. Như đã nêu ở trên, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, dân chủ là một hiện tượng lịch sử gắn liền với xã hội có giai cấp và được biến đổi dưới nhiều hình thức khác nhau trong điều kiện của các hình thái kinh tế - xã hội. Trong xã hội XHCN, dân chủ có một chất lượng mới, phát triển đầy đủ hơn nội dung quyền lực thuộc về nhân dân. Dân chủ XHCN là bước phát triển cao hơn về chất so với các kiển dân chủ trong lịch sử.
Nền dân chủ XHCN dựa trên những cơ sở kinh tế, chính trị, xã hội vững chắc. Thứ nhất, về kinh tế, dân chủ XHCN dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Thứ hai, mọi người đều được tham gia vào các công việc của nhà nước. Thứ ba, Đảng Cộng sản giữ vai trò lãnh đạo nhà nước và xã hội, và là nhân tố quyết định thắng lợi của cuộc đấu tranh vì nền dân chủ XHCN.
Tuy nhiên, hiện nay, CNXH và nền dân chủ XHCN chưa ở trình độ thuần thục và còn đang trong quá trình hình thành và phát triển để trở thành một hiện thực phổ biến, mang lại những giá trị thực sự cho nhân dân lao động. Kế thừa và phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã dày công nghiên cứu lý luận về dân chủ và các giải pháp tích cực để phát huy dân chủ. Đảng ta luôn xác định: Dân chủ XHCN là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Nhà nước thừa nhận quyền ~ 16 ~ z tự do, bình đẳng của công dân, xác định nhân dân là chủ thể của quyền lực.
Quyền làm chủ của nhân dân từng bước được thể chế hóa thành quy định, nguyên tắc tổ chức, vận hành của Nhà nước và thể chế chính trị tạo nên chế độ dân chủ.Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam hơn tám thập niên qua, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn gắn việc thực thi dân chủ với các mục tiêu chiến lược: giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Trong tiến trình cách mạng, ở mỗi chặng đường gắn với nhiệm vụ cụ thể, quan điểm của Đảng về thực thi dân chủ được cụ thể hóa thành các mục tiêu phù hợp. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II (1951), trước nhiệm vụ chống thực dân Pháp xâm lược, Đảng ta xác định: Chính quyền Nhà nước dân chủ nhân dân Việt Nam phải là chính quyền nhà nước tiêu biểu cho lợi ích của tất cả các giai cấp, các tầng lớp nhân dân yêu nước và dân chủ. Trước những thời cơ và vận hội mới khi đất nước thống nhất, Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IV (1976) đã đề ra nhiệm vụ xây dựng chế độ làm chủ tập thể của nhân dân lao động, sao cho nhân dân xứng đáng là người chủ trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và chinh phục tự nhiên.
Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986), đại hội khởi xướng công cuộc đổi mới, Đảng đã đặc biệt nhấn mạnh phải thực hiện nề nếp khẩu hiệu dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, tất cả là vì dân và do dân, để nhân dân tham gia quản lý kinh tế, quản lý xã hội; quán triệt quan điểm “Lấy dân làm gốc”, tăng cường quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, mọi chủ trương, chính sách của Đảng phải xuất phát từ lợi ích, nguyện vọng và khả năng của nhân dân lao động, phải khơi dậy được sự đồng tình, hưởng ứng của quần chúng. Đại hội VII (1991), Đảng đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và xác định: Nhà nước phải liên hệ thường xuyên và chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng và lắng nghe ý kiến của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân. Văn kiện Đại hội VIII của Đảng (1996) chỉ rõ: Xây dựng Nhà nước XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân; xây dựng nền dân chủ XHCN là một nội dung cơ bản của đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta.
Phải có cơ chế và cách làm cụ thể để thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đối với các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước; thực hiện tốt cơ chế làm chủ của nhân dân. Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ X (2006) tiếp tục nhấn mạnh nhiệm vụ: xây dựng một xã hội dân chủ, xác định các hình thức tổ chức và có cơ chế để nhân dân thực hiện quyền dân chủ trên các lĩnh ~ 17 ~ z vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội và khẳng định: phát huy dân chủ là vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với tiến trình phát triển của đất nước. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (2011), quan điểm của Đảng về dân chủ và phát huy dân chủ ở Việt Nam tiếp tục là sự kế thừa và phát triển có chọn lọc các giá trị nhân loại, phù hợp với điều kiện của đất nước. Đảng Cộng sản Việt Nam đã quán triệt sâu sắc và hoàn thiện hơn hệ mục tiêu XHCN: "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".
Dân chủ không chỉ là mục tiêu, mà còn là động lực phát triển của đất nước, vì nó phát huy tính tích cực, chủ động, tự giác, giải phóng năng lực sáng tạo của con người… Dân chủ và phát huy dân chủ, là một nội dung lớn, quan trọng trong đường lối đổi mới của Đảng ta. Đây là kết quả của quá trình tiến hành tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận của Đảng trong suốt quá trình hơn 80 năm lãnh đạo và gần 30 đổi mới đất nước. Dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển đồng thời cũng là nền tảng chống lại những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, củng cố thế và lực của Việt Nam trên trường quốc tế.2, Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở (1998-2008) Nhận thức ý nghĩa quan trọng của thực hiện QCDCOCS trong quá trình xây dựng nền dân chủ XHCN, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đặc biệt nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng và thực hiện QCDCOCS. Coi đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước Trong những năm đầu đổi mới, nền dân chủ XHCN đã được thực thi.
Nhưng thực tế cho thấy: ở một số địa phương, quyền làm chủ của nhân dân còn bị vi phạm; tệ quan liêu, cửa quyền, tham nhũng, gây phiền hà cho dân vẫn đang phổ biến do duy trì quá lâu cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp.