Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Xóa đói giảm nghèo là một trong những mục tiêu an sinh xã hội cơ bản, gắn liền với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế tại Việt Nam. Tại khu vực nông thôn và vùng sâu, vùng xa, tình trạng chênh lệch thu nhập cùng rào cản tiếp cận các điều kiện sống tối thiểu vẫn là trở ngại lớn cho sự phát triển đồng đều. Huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An là địa bàn nông nghiệp bán sơn địa đang trong tiến trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Mặc dù công tác giảm nghèo tại địa phương trong các năm qua đã đạt được những chuyển biến rõ nét với tỷ lệ hộ nghèo suy giảm liên tục, quá trình thoát nghèo vẫn chưa thực sự mang tính bền vững. Đa phần người nghèo có thu nhập bấp bênh, mặt bằng học vấn và chuyên môn kỹ thuật hạn chế, trong khi nguy cơ tái nghèo trước các biến động thời tiết, dịch bệnh và biến động kinh tế vẫn còn cao. Thực tế này đặt ra yêu cầu phải đánh giá một cách hệ thống thực trạng nghèo và hiệu quả thực thi các chính sách an sinh trên địa bàn.
Khóa luận xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về nghèo đói, chuẩn nghèo và các nội dung, phương pháp giảm nghèo.
- Phân tích, đánh giá thực trạng nghèo đói và kết quả thực hiện các chính sách giảm nghèo trên địa bàn huyện Đô Lương giai đoạn 2014 – 2019 (tập trung phân tích sâu chuỗi dữ liệu 2017 – 2019).
- Đề xuất quan điểm, phương hướng và hệ thống các nhóm giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả công tác giảm nghèo bền vững tại huyện Đô Lương trong giai đoạn tiếp theo.
Về đối tượng nghiên cứu, đề tài tập trung vào các hộ nghèo cùng toàn bộ các hoạt động, cơ chế, chính sách và nguồn lực liên quan trực tiếp đến công tác giảm nghèo trên địa bàn huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát 33 xã và thị trấn trực thuộc huyện. Phạm vi thời gian tập trung thu thập, đối soát số liệu trong giai đoạn 2014 – 2019, trong đó nhấn mạnh giai đoạn 2017 – 2019 khi áp dụng chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết của đề tài được xây dựng trên hệ thống các định nghĩa và tiêu chuẩn quốc tế lẫn trong nước về nghèo đói. Về mặt quốc tế, tác giả trích dẫn quan điểm của Ngân hàng Thế giới (WB) về sự thiếu hụt phúc lợi sinh lý học và xã hội học; định nghĩa của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO); định nghĩa nghèo của Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP, Bangkok, 1993). Đồng thời, đề tài tổng thuật các công cụ đo lường chuẩn nghèo phổ biến:
- Chỉ số phát triển con người (HDI) của UNDP.
- Phương pháp đường nghèo lương thực (ngưỡng 2.100 kcalo/người/ngày) và đường nghèo chung theo tiêu chuẩn của WB.
- Mức chi tiêu tối thiểu tính theo sức mua tương đương (1 USD, 1,25 USD, 2 USD/người/ngày).
- Chỉ số nghèo khổ tổng hợp (HPI-1, HPI-2) và Chỉ số nghèo đa chiều (MPI) do Sáng kiến Nghèo đói và Phát triển Con người Oxford (OPHI) xây dựng.
Ở phạm vi quốc gia, tác giả khái quát quá trình 7 lần điều chỉnh chuẩn nghèo của Việt Nam từ năm 1993 đến nay. Cơ sở pháp lý nòng cốt áp dụng cho giai đoạn nghiên cứu là Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 – 2020. Theo đó, hộ nghèo nông thôn được xác lập theo hai tiêu chí: (1) Thu nhập bình quân đầu người từ đủ 700.000 đồng/tháng trở xuống; hoặc (2) Thu nhập trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng/tháng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản (y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin) trở lên.
Về phương pháp nghiên cứu, đề tài là công trình nghiên cứu bàn giấy kết hợp thống kê mô tả thực tiễn, không tiến hành khảo sát chọn mẫu định lượng vi mô bằng bảng hỏi (n) độc lập mà sử dụng hoàn toàn nguồn dữ liệu thứ cấp chính thức. Các phương pháp kỹ thuật được triển khai bao gồm:
- Phương pháp tổng hợp và phân loại số liệu thống kê.
- Phương pháp phân tích thống kê so sánh (so sánh chuỗi thời gian 2014 – 2019 và so sánh không gian giữa các đơn vị hành chính xã, giữa huyện Đô Lương với tỉnh Nghệ An và các huyện phụ cận).
- Phương pháp khái quát hóa lý luận kết hợp phân tích đối chiếu chính sách.
Nguồn dữ liệu thứ cấp được cung cấp và tổng hợp từ: Phòng Công thương huyện Đô Lương; Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Đô Lương; Ban chấp hành Hội Nông dân huyện Đô Lương; Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Đô Lương; các báo cáo kinh tế - xã hội của Ủy ban nhân dân huyện Đô Lương và UBND tỉnh Nghệ An.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về nghèo đói và giảm nghèo
Chương 1 hệ thống hóa nhận thức lý luận về bản chất của nghèo đói, chuẩn nghèo và chính sách giảm nghèo. Tác giả chỉ ra các đặc trưng cơ bản của người nghèo như: hạn chế về năng lực nhận thức, vị thế xã hội thấp, điều kiện sống gắn chặt với sản xuất nông nghiệp thô sơ, thiếu năng lực kiểm soát rủi ro và dễ mắc tệ nạn xã hội. Nguyên nhân nghèo được phân tách thành hai nhóm: nguyên nhân chủ quan (học vấn thấp, thiếu vốn, thiếu đất đai, lao động thủ công năng suất thấp, sinh đông con) và nguyên nhân khách quan (thiên tai, biến động thời tiết, tai nạn, bệnh tật hiểm nghèo, biến động kinh tế - chính trị).
Về kinh nghiệm quốc tế, chương này khảo cứu hai mô hình điển hình tại Đông Nam Á:
- Thái Lan: Thực hiện chương trình "Mỗi làng một sản phẩm" (OTOP) và dự án Hoàng gia "Anh hùng vô danh" (triển khai giai đoạn 2016 – 2019 hỗ trợ hơn 20 triệu người tại 24.000 thôn bản); tổ chức liên kết hợp tác xã cà phê tại Chiang Mai nâng thu nhập bình quân lên 70.000 Bạt/người/năm.
- Malaysia: Kết hợp tăng trưởng kinh tế nhanh với phân phối công bằng qua các chương trình tái định cư, dồn điền đổi thửa, phát triển công nghiệp chế biến nông thôn và lập chợ phiên, hạ tỷ lệ nghèo từ 50% (năm 1970) xuống 17,1% (năm 1990), 4% (năm 2002) và tiệm cận 0% vào năm 2018.
Từ đó, tác giả đúc kết 6 bài học kinh nghiệm ứng dụng cho huyện Đô Lương: xã hội hóa nguồn lực, xây dựng cơ chế đặc thù cho hạ tầng nông nghiệp, đầu tư dạy nghề thực chất, mở rộng hỗ trợ trực tiếp đúng đối tượng, khơi dậy nội lực tự vươn lên của người nghèo và làm tốt công tác tuyên truyền phòng chống tư tưởng ỷ lại.
Chương 2: Thực trạng về nghèo và công tác giảm nghèo trên địa bàn huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An
Chương 2 cung cấp bức tranh toàn diện về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và số liệu chi tiết về thực trạng nghèo tại địa phương. Đô Lương có diện tích 350,433 km², quy mô dân số trên 205.000 người (năm 2019), gồm 33 xã và thị trấn. Năm 2019, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 16%, tổng giá trị sản xuất đạt 15.000 tỷ đồng, thu nhập bình quân đầu người đạt 45,38 triệu đồng/năm và thu ngân sách nhà nước đạt gần 258 tỷ đồng.
Thực trạng phân bố và biến động hộ nghèo: Số hộ nghèo trên địa bàn giảm từ 1.942 hộ (năm 2017) xuống 1.389 hộ (năm 2018) và còn 891 hộ (năm 2019). Tỷ lệ hộ nghèo tương ứng giảm từ 3,75% (2017) xuống 2,68% (2018) và 1,56% (2019). Hộ nghèo tập trung chủ yếu tại các xã vùng sâu, vùng xa, địa hình phức tạp, giao thông cách trở như Đại Sơn (năm 2019 có 55 hộ nghèo - cao nhất huyện), Giang Sơn Đông (43 hộ), Hiến Sơn (40 hộ), Trù Sơn (40 hộ), Thượng Sơn (40 hộ). Ngược lại, thị trấn Đô Lương chỉ còn 3 hộ nghèo.
| Chỉ tiêu thống kê hộ nghèo |
Năm 2017 |
Năm 2018 |
Năm 2019 |
| Số lượng hộ nghèo toàn huyện (hộ) |
1.942 |
1.389 |
891 |
| Tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện (%) |
3,75 |
2,68 |
1,56 |
| Xã có số hộ nghèo cao nhất (Đại Sơn) (hộ) |
91 |
74 |
55 |
| Đơn vị có số hộ nghèo thấp nhất (Thị trấn Đô Lương) (hộ) |
12 |
5 |
3 |
Khảo sát mức độ thiếu hụt các chiều dịch vụ xã hội cơ bản năm 2019:
- Về nhà ở và tiện ích sinh hoạt: Tỷ lệ hộ nghèo có nhà ở kiên cố (diện tích trên 40 m²) chỉ đạt 46% (54% chưa đạt chuẩn); 80,2% có nhà tiêu hợp vệ sinh riêng (gần 20% còn dùng nhà tiêu tạm bợ); 67,7% có đồng hồ điện riêng; chỉ 45,4% có đồng hồ nước riêng. Số còn lại phải câu móc điện (giá 1.000 – 2.000 đồng/kWh) và nước sinh hoạt (2.000 – 5.000 đồng/m³).
- Về học vấn và chuyên môn kỹ thuật: Tỷ lệ học sinh hộ nghèo theo học tập trung lớn nhất ở cấp I; học sinh bỏ học giữa chừng ở cấp III chiếm 9,8%; 8,5% người nghèo không biết chữ (hầu hết trên 50 tuổi). Đặc biệt, 95,4% lao động thuộc hộ nghèo không có trình độ chuyên môn kỹ thuật; công nhân kỹ thuật chiếm 2,3%; trung học chuyên nghiệp chiếm 1,8%.
- Về việc làm và quy mô gia đình: Chỉ có 23% lao động hộ nghèo có việc làm ổn định, 21% việc làm bấp bênh, 23,5% hoàn toàn không có việc làm. Số hộ nghèo có thu nhập dưới 3 triệu đồng/tháng là 339/891 hộ (chiếm 38%). Quy mô nhân khẩu bình quân hộ nghèo lên tới 6 người/hộ (mức trung bình của tỉnh Nghệ An là 3,8 người/hộ); tỷ lệ dân số phụ thuộc trong hộ nghèo chiếm 27%.
Thực trạng triển khai chính sách và nguồn vốn:
- Nguồn lực tài chính: Giai đoạn 2014 – 2019 ghi nhận sự chuyển dịch cơ cấu nguồn vốn. Vốn ngân sách trung ương và địa phương giảm dần (năm 2019 ngân sách địa phương cấp 203,145 triệu đồng, trung ương cấp 45 triệu đồng), trong khi nguồn vốn huy động xã hội hóa duy trì ở mức cao (đạt 1.916,567 triệu đồng năm 2019).
- Chính sách tín dụng ưu đãi (2014 – 2019): Tổng doanh số cho vay đạt 325.013 triệu đồng với 19.612 lượt vay. Trong đó, cho vay học sinh - sinh viên chiếm tỷ trọng áp đảo (10.622 lượt vay, 144.019 triệu đồng); cho vay hộ nghèo đạt 2.747 lượt (52.055 triệu đồng); cho vay hộ cận nghèo đạt 2.306 lượt (55.778 triệu đồng); trong khi vay vốn xây dựng nhà ở chỉ có 32 lượt với 676 triệu đồng.
- Hoạt động an sinh xã hội: Huyện đã cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí cho 100% người nghèo và cận nghèo; hỗ trợ tiền điện cho 9.848 lượt hộ nghèo và 70 đối tượng bảo trợ xã hội (1.724 triệu đồng); phối hợp xây mới 192 nhà đại đoàn kết, sửa chữa 180 căn nhà với tổng kinh phí 5.458,975 triệu đồng; Quỹ vì người nghèo vận động bình quân trên 1,6 tỷ đồng mỗi năm.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả công tác giảm nghèo trên địa bàn huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An
Chương 3 xác định mục tiêu tổng quát là giảm nghèo đa chiều bền vững gắn với xây dựng nông thôn mới, hạn chế phân hóa giàu nghèo giữa thị trấn và vùng ven. Mục tiêu cụ thể gồm: phấn đấu hạ tỷ lệ hộ nghèo bình quân 20 – 25%/năm; đảm bảo 100% hộ nghèo đủ điều kiện được tiếp cận vốn tín dụng ưu đãi sản xuất và làm nhà ở; 95% lao động nghèo có nhu cầu được đào tạo nghề và tư vấn việc làm; nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo toàn huyện lên 10 – 15%.
Dự báo đến năm 2025, tác giả nhận định tốc độ giảm nghèo của huyện sẽ chậm lại do các hộ còn lại phần lớn rơi vào diện bảo trợ, thiếu tư liệu sản xuất hoặc già yếu, ốm đau bệnh tật. Tác giả đề xuất 2 nhóm giải pháp chính:
- Nhóm giải pháp hỗ trợ tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản và nâng cao nhận thức:
- Dạy nghề gắn với việc làm: Triển khai Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Quyết định số 591/QĐ-TTg và Quyết định số 46/2015/QĐ-TTg; ưu tiên đào tạo nghề tại chỗ, hỗ trợ vay vốn ưu đãi học nghề và xuất khẩu lao động; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào cụm xã tỷ lệ nghèo cao (Đại Sơn, Giang Sơn Đông, Hiến Sơn, Thượng Sơn, Trù Sơn, Quang Sơn).
- Trợ giúp giáo dục, y tế, nhà ở và vệ sinh: Thực hiện miễn giảm học phí theo Nghị định số 49/2010/NĐ-CP; tăng cường đầu tư trạm y tế xã; tháo gỡ rào cản thủ tục để người nghèo mạnh dạn vay vốn xây dựng nhà kiên cố; hỗ trợ đấu nối đồng hồ nước riêng và xây dựng nhà vệ sinh tự hoại nhằm xóa bỏ tỷ lệ 19,2% nhà vệ sinh tạm bợ.
- Truyền thông cơ sở: Nâng cao năng lực cán bộ truyền thông xã, phổ biến kiến thức kỹ thuật và mô hình làm ăn có hiệu quả nhằm xóa bỏ tâm lý trông chờ, ỷ lại.
- Nhóm giải pháp hỗ trợ phát triển sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập:
- Thực thi chính sách tín dụng ưu đãi theo Nghị định số 78/2002/NĐ-CP và Quyết định số 28/2015/QĐ-TTg đối với hộ mới thoát nghèo.
- Định hướng sử dụng vốn vào chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao, đầu tư trang thiết bị sản xuất nhỏ và thương mại dịch vụ thay vì dàn trải vào nông nghiệp truyền thống kém hiệu quả.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và minh chứng được các kết quả giảm nghèo thực tế tại huyện Đô Lương qua chuỗi dữ liệu thực chứng:
- Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 3,75% năm 2017 xuống 1,56% năm 2019, đưa tỷ lệ nghèo của Đô Lương xuống thấp hơn mức bình quân chung của tỉnh Nghệ An (năm 2019 toàn tỉnh là 4%).
- Tổng kết quả huy động tín dụng ưu đãi đạt 325,013 tỷ đồng với 19.612 lượt vay trong 6 năm (2014 – 2019); trong đó kênh tín dụng học sinh, sinh viên chiếm tỷ trọng lớn nhất với 144,019 tỷ đồng (10.622 lượt vay).
- Kết quả xã hội hóa huy động được quỹ hỗ trợ xóa nhà tạm bợ: xây mới 192 nhà đại đoàn kết và sửa chữa 180 căn nhà với kinh phí hơn 5,45 tỷ đồng.
Về mặt đóng góp học thuật và thực tiễn, công trình là tài liệu nghiên cứu chuyên biệt về bài toán giảm nghèo đa chiều tại huyện Đô Lương ở thời điểm kết thúc giai đoạn 2016 – 2020. Nghiên cứu đã bóc tách chính xác các nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tình trạng chậm thoát nghèo tại địa phương: không phải do thiếu chính sách chung mà do sự thiếu hụt nghiêm trọng về trình độ chuyên môn (95,4% không có nghề), gánh nặng quy mô hộ đông con (6 người/hộ) và tâm lý e ngại vay vốn lớn để cải thiện điều kiện nhà ở.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế chính của đề tài xuất phát từ việc dựa hoàn toàn vào nguồn số liệu thứ cấp báo cáo hành chính, chưa triển khai điều tra chọn mẫu xã hội học thực địa đối với các hộ dân để đo lường mức độ hài lòng hoặc đánh giá các chiều thiếu hụt vô hình. Ngoài ra, phần số liệu phân tích tài chính xã hội hóa và tín dụng mới dừng lại ở năm 2019; các dự báo kinh tế cho giai đoạn 2020 – 2025 mang tính định tính ngoại suy, chưa xây dựng các mô hình kinh tế lượng để kiểm định tác động của từng chính sách cụ thể.
Hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng thu thập dữ liệu sơ cấp trực tiếp từ các nhóm hộ nghèo tại các xã vùng sâu (Đại Sơn, Giang Sơn Đông); đồng thời đánh giá tác động của chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn mới (2021 – 2025) đối với biến động tỷ lệ hộ nghèo và khả năng tái nghèo của địa phương.
Giá trị tham khảo
Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho sinh viên các chuyên ngành Kinh tế phát triển, Kinh tế và Quản lý Đô thị, Quản lý công và Công tác xã hội khi tiếp cận phương pháp phân tích chính sách giảm nghèo cấp huyện. Tài liệu đặc biệt hữu ích cho cán bộ quản lý phụ trách công tác Lao động - Thương binh và Xã hội, cán bộ Hội Nông dân cấp huyện trong việc tham khảo hệ thống bảng biểu phân tích các chiều thiếu hụt dịch vụ xã hội và cơ cấu phân bổ vốn tín dụng chính sách tại địa bàn huyện Đô Lương.
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ hộ nghèo của huyện Đô Lương biến động như thế nào trong giai đoạn 2017 – 2019?
Tỷ lệ hộ nghèo của huyện giảm liên tục qua các năm: đạt 3,75% (1.942 hộ) năm 2017; giảm xuống 2,68% (1.389 hộ) năm 2018; và còn 1,56% (891 hộ) vào năm 2019. Mức 1,56% năm 2019 thấp hơn đáng kể so với mức bình quân chung của tỉnh Nghệ An (4%).
2. Địa bàn nào có số lượng hộ nghèo cao nhất và thấp nhất huyện Đô Lương năm 2019?
Năm 2019, xã có số lượng hộ nghèo cao nhất là xã Đại Sơn với 55 hộ; đơn vị có số hộ nghèo thấp nhất là thị trấn Đô Lương với 3 hộ nghèo.
3. Tình trạng thiếu hụt về trình độ chuyên môn của lao động thuộc hộ nghèo tại Đô Lương ở mức nào?
Theo thống kê năm 2019 trong khóa luận, có tới 95,4% người dân thuộc hộ nghèo không có trình độ chuyên môn; công nhân kỹ thuật chỉ chiếm 2,3% và trung học chuyên nghiệp chiếm 1,8%.
4. Trong các chương trình tín dụng ưu đãi giai đoạn 2014 – 2019, chương trình nào có doanh số và lượt vay lớn nhất?
Chương trình tín dụng đối với học sinh, sinh viên, học viên có quy mô lớn nhất, đạt 10.622 lượt vay với tổng số tiền 144,019 tỷ đồng (chiếm gần một nửa tổng doanh số cho vay ưu đãi của huyện). Ngược lại, vay vốn xây dựng nhà ở có quy mô thấp nhất với chỉ 32 lượt vay (676 triệu đồng).
5. Thực trạng nhà ở và công trình phụ trợ của các hộ nghèo tại Đô Lương năm 2019 ra sao?
Chỉ có 46% hộ nghèo có nhà ở kiên cố với diện tích trên 40 m² (54% chưa đạt yêu cầu); 80,2% hộ có nhà xí hợp vệ sinh riêng; 67,7% có đồng hồ điện riêng; và 45,4% có đồng hồ nước riêng.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Cherchangthor Kingthor đã phản ánh bức tranh thực tế về công tác giảm nghèo đa chiều tại huyện Đô Lương giai đoạn 2014 – 2019 thông qua hệ thống dẫn chứng và số liệu thứ cấp cụ thể. Kết quả nghiên cứu làm rõ rằng dù tỷ lệ nghèo giảm mạnh xuống 1,56%, tính bền vững vẫn bị đe dọa bởi tình trạng thiếu chuyên môn kỹ thuật và quy mô hộ đông con. Hệ thống giải pháp đề xuất tập trung vào đào tạo nghề gắn với việc làm, tháo gỡ rào cản tín dụng nhà ở và tăng cường tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản là định hướng phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.