phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương, và 8 tiết. 11 z Chƣơng 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁN BỘ NỮ CHỦ CHỐT VÀ PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA CÁN BỘ NỮ CHỦ CHỐT PHƢỜNG 1. Cán bộ nữ chủ chốt phƣờng và vai trò của cán bộ nữ chủ chốt phƣờng 1. Khái niệm cán bộ nữ chủ chốt phường Khái niệm phường trong hệ thống chính trị Việt Nam ề ịV N Hệ thống chính trị là khái niệm tồn tại từ thời kỳ Karl Marx và F.Engels tiếp cận bằng thuật ngữ tương đương là “Hệ thống cai trị”, “Hệ thống đẳng cấp chính trị”, “Hệ thống cấp bậc về mặt xã hội và chính trị” [10,tr.
Ngoài ra, hai ông thường dùng các thuật ngữ như “Cơ cấu chính trị”, “Hình thức chính trị” như là các khái niệm tương đương. Trước đó, Jean Jacques Rousseau – Triết gia nổi tiếng thuộc trào lưu Khai sáng (Thế kỷ XVIII) đã trình bày trong tác phẩm nổi tiếng của mình “T ừ ẽ, p ợp ủ ấ ườ ó ề ầ p , ạ ộ ơ ấ ó p ể ạ ; ơ ấ ó ó ồ ấ,b ã, ờ ý ơ ấ ộ ợp ủ ấ ườ , ướ ượ ộ ồ D ú ( ) N ó ộ Hò (Rep b ) ơ ấ ị (B politic)” [47, tr. Lênin dùng khái niệm “Hệ thống chuyên chính vô sản” để nghiên cứu thiết chế chính trị xã hội. Theo ông, thiết chế này bao gồm các thành tố: Nhà nước giai cấp công nhân, chính quyền Xô Viết – chính quyền chuyên chính vô sản, nhà nước công nông…; Đảng cộng sản của giai cấp công nhân giữ vai trò lãnh đạo nhà nước Xô Viết, các tổ chức quần chúng mà tiêu biểu là công đoàn.
Trong đó Lênin nhấn mạnh “Sợi dây chuyền” – cầu nối giữa Đảng với giai cấp công nhân và nhân dân lao động [52, tr. 12 z Ở Việt Nam khái niệm Hệ thống chính trị bắt đầu được sử dụng từ Hội nghị lần thứ Sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI (1986) thay thế cho phạm trù “Hệ thống chuyên chính vô sản” trước đó. Từ Đại hội VII (1991) của Đảng đến nay, khái niệm này được sử dụng rộng rãi và phổ biến. Việc sử dụng thống nhất, rộng rãi phạm trù Hệ thống chính trị ở nước ta là phù hợp với mục đích và xu thế phát triển của đất nước và thời đại, vừa đảm bảo sự thống nhất trong hoạt động của các yếu tố cấu thành hệ thống chính trị theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa.
So với nội hàm khái niệm “Hệ thống chuyên chính vô sản”, khái niệm Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa có nội hàm rộng hơn do bao gồm một số tổ chức không phải là yếu tố cấu thành của “hệ thống chuyên chính vô sản” như các tổ chức, hoạt động yêu nước, tiến bộ… Về khái niệm hệ thống chính trị, viện Chính trị học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng: “Hệ thống chính trị là tổ hợp có tính chính thể các thể chế chính trị (các cơ quan quyền lực nhà nước, các đảng chính trị, các tổ chức và phong trào xã hội…) được xây dựng trên các quyền và các chuẩn mực xã hội, phân bố theo một kết cấu chức năng nhất định, vận hành theo những nguyên tắc, cơ chế và quan hệ cụ thể, nhằm thực thi quyền lực chính trị” [25, tr. Hệ thống chính trị nước ta được kết cấu “Mô hình tổng thể của hệ thống chính trị của xã hội ta bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Hội Cựu chiến binh Việt Nam” [48, tr. Xét theo kết cấu trên, có thể chia mô hình Hệ thống chính trị nước ta làm ba bộ phận: Một là, Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là bộ phận và là hạt nhân chính trị của hệ thống chính trị, lãnh đạo các tổ chức trong hệ thống của mình đồng thời lãnh đạo toàn bộ hệ thống chính trị.
Điều này đã được khẳng định trong ươ ĩ x ấ ướ ờ ỳ ộ ủ ĩ xã ộ (bổ 13 z sung, phát triển năm 2011) “Đ ã ạ ị, ồ ờ bộ p ủ ấ ”. Theo tinh thần sửa đổi Hiến pháp 1992 năm 2013 “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội” Hai là, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Là nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công, kiểm soát, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực thi các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, mọi cơ quan, tổ chức, công dân đều có nghĩa vụ làm theo Hiến pháp và pháp luật. Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, thông qua Quốc hội, Hội đồng Nhân dân và các cơ quan khác của Nhà nước. Ba là, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức Chính trị - Xã hội (Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội cựu Chiến binh Việt Nam) Là thành viên đồng thời là cơ sở chính trị của hệ thống chính trị nước ta. Đây là cầu nối giữa Đảng với dân, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, xây dựng cơ sở chính trị - xã hội của Đảng, nhà nước và chế độ xã hội.
Mô hình tổ chức và cấu trúc của Hệ thống chính trị nước ta giống nhau ở cả bốn cấp Trung ương; tỉnh, thành phố; quận, huyện; xã, phường, thị trấn. “Vị trí, vai trò của mỗi bộ phận trong hệ thống chính trị ở từng cấp tương đương vị trí vai trò của các bộ phận trong hệ thống chính trị cấp trên song có sự khác nhau về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và phạm vi hoạt động” [50, tr. Xét trong toàn hệ thống, mỗi tổ chức có vai trò và nhiệm vụ riêng, tuy 14 z nhiên tất cả các tổ chức đều thể hiện vai trò trong mối quan hệ với các tổ chức khác, với cả hệ thống và với toàn xã hội. p ườ ịV N Hiện nay đơn vị hành chính cơ sở ở nước ta gồm 3 loại hình là xã, phường và thị trấn.
Phường là đơn vị hành chính cơ sở ở đô thị (thị xã và thành phố). Sau khi giành độc lập, nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kí hai sắc lệnh khác nhau đó là: Sắc lệnh 63/SL ngày 22 tháng 12 năm 1945 ề Tổ ề ở ị p ươ và sắc lệnh 77/SL ngày 21 tháng 12 năm 1945 về Tổ ề ở ị xã p. Trong một số nghiên cứu về chính quyền đô thị ở Việt Nam có tác giả cho rằng: Thuật ngữ “Phường” là thuật ngữ Hán – Việt được ghép từ hai chữ “Thổ” và “Phương” có nghĩa là khu đất được quy hoạch [54, tr. Thuật ngữ này được sử dụng ở nước ta từ thời chống Bắc thuộc và đến năm 1230 nhà Trần đã chia Thăng Long thành 61 phường.
Một cách hiểu khác cho rằng : “Phường” trong quan niệm của người Việt còn gắn với nghề nghiệp, là những nhóm người cùng chung một nghề nghiệp, tập trung trên một địa bàn lãnh thổ nhất định” [54, tr. Theo Hiến pháp 1992 “Nước ta chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; tỉnh chia thành huyện, thành phố trực thuộc tỉnh và thị xã; huyện chia thành xã, thị trấn; thành phố trực thuộc tỉnh, thị xã chia thành phường và xã; Quận chia thành phường”. Như vậy, “phường” là đơn vị hành chính cuối cùng ở thành phó, thị xã trong hệ thống chính trị chia làm bốn cấp ở nước ta. “Phường” là hình ảnh của một xã hội thu nhỏ, nơi tổ chức thực hiện mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và biến các nghị quyết của cấp trên thành hiện thực.
Thông qua Hệ thống chính trị, phường nắm bắt tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, phản ánh với Đảng và Nhà nước, tạo nên cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Đồng thời kiểm nghiệm tính đúng đắn của đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Xuất phát từ hiện thực sinh động tại địa bàn quản lý, phường là nơi 15 z đóng góp các sáng kiến, kinh nghiệm, đề xuất, báo cáo với Đảng và Nhà nước. Từ đó các cơ quan cấp trên có căn cứ thực tế để sửa đổi, bổ sung các chính sách cho phù hợp với điều kiện tình hình ở cơ sở.
Thực tế cho thấy, hệ thống chính trị cấp cơ sở nói chung và phường nói riêng là bộ phận quan trọng tạo nên Hệ thống chính trị nước ta. Hệ thống chính trị ở phường mạnh thì Hệ thống chính trị cấp quận và thành phố mới vững mạnh và phát triển, cũng chính vì vậy phường là cơ sở, tiền đề tạo nên sự vững chắc của Hệ thống chính trị quốc gia. Để các tổ chức của Hệ thống chính trị phường vững mạnh và hoạt động có hiệu quả điều này phụ thuộc rất lớn vào đội ngũ cán bộ chủ chốt của Hệ thống chính trị phường, trong đó góp phần không nhỏ là vai trò của các cán bộ chủ chốt phường là nữ. Đội ngũ này có chất lượng tốt, năng động, sáng tạo, có năng lực phẩm chất đạo đức, phương pháp công tác tốt sẽ làm cho Hệ thống chính trị phường phát triển vững mạnh.
Khái niệm cán bộ “Cán bộ” là một từ được sử dụng phổ biến trong đời sống xã hội ở nước ta từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng. Danh từ “Cán bộ” là một từ Hán - Việt, nhưng trong quá trình sử dụng từ này đã được thuần Việt theo tâm lý, văn hóa dân tộc nên biến đổi nhiều, không còn nguyên nghĩa gốc. Theo cách hiểu thông thường, “cán bộ” được hiểu là những người thoát ly, làm việc trong bộ máy chính quyền, đảng, đoàn thể và lực lượng vũ trang.