Luận án tiến sĩ về hợp tác quốc tế cấp địa phương tại Đà Nẵng (1997-2020)

Khám phá luận án tiến sĩ về hợp tác quốc tế cấp địa phương tại Đà Nẵng giai đoạn 1997-2020, phân tích các yếu tố và kết quả đạt được.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Quan hệ quốc tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

204
4
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. DANH MỤC BẢNG

2. Lý do chọn đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

6. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

6.1. Các công trình nghiên cứu lý luận về chủ thể cấp địa phương của hợp tác quốc tế

6.2. Các công trình nghiên cứu về lý luận và thực tiễn hợp tác quốc tế cấp địa phương

6.3. Các công trình nghiên cứu về ngoại giao song song (paradiplomacy)

6.4. Các công trình nghiên cứu về ngoại giao thành phố (city diplomacy)

6.5. Các công trình nghiên cứu về các khái niệm khác

6.6. Các công trình nghiên cứu về hợp tác quốc tế đa phương cấp địa phương

6.7. Các công trình nghiên cứu về hợp tác quốc tế cấp địa phương trên các lĩnh vực và địa bàn cụ thể

6.8. Các công trình nghiên cứu về hợp tác quốc tế cấp địa phương trên các lĩnh vực

6.9. Các công trình nghiên cứu về hợp tác quốc tế cấp địa phương theo địa bàn

6.10. Các công trình nghiên cứu về hợp tác quốc tế cấp địa phương tại Việt Nam và hợp tác quốc tế của thành phố Đà Nẵng

6.11. Một số nhận xét

6.12. Nhận xét chung về tình hình nghiên cứu

6.13. Những kết quả nghiên cứu mà Luận án sẽ kế thừa và tiếp thu

6.14. Những vấn đề Luận án sẽ nghiên cứu

7. HỢP TÁC QUỐC TẾ CẤP ĐỊA PHƯƠNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM

7.1. Hợp tác quốc tế song phương cấp địa phương

7.2. Quá trình hình thành và phát triển của hợp tác quốc tế song phương cấp địa phương

7.3. Các hình thức và biện pháp tiến hành hợp tác quốc tế song phương cấp địa phương

7.4. Hợp tác quốc tế song phương cấp địa phương tại một số quốc gia trên thế giới

7.5. Hợp tác quốc tế song phương của các địa phương Việt Nam

7.6. Hợp tác phát triển quốc tế cấp địa phương

7.7. Hợp tác quốc tế đa phương cấp địa phương

7.8. Quá trình hình thành và phát triển của các cơ chế hợp tác đa phương cấp địa phương trên thế giới

7.9. Một số cơ chế hợp tác quốc tế đa phương cấp địa phương tiêu biểu

7.10. Sự tham gia của các địa phương Việt Nam vào các cơ chế hợp tác đa phương cấp địa phương

7.11. Ngoại giao khí hậu ở cấp độ địa phương

7.12. Vai trò và các yếu tố tác động đến ngoại giao khí hậu của chính quyền địa phương

7.13. Các hình thức và hoạt động ngoại giao khí hậu ở cấp độ địa phương

8. HỢP TÁC QUỐC TẾ CỦA THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

8.1. Các yếu tố trong nước và nội tại tác động đến hợp tác quốc tế của thành phố Đà Nẵng

8.1.1. Các yếu tố trong nước

8.1.2. Các yếu tố nội tại của thành phố Đà Nẵng

8.2. Mục đích để thành phố Đà Nẵng tham gia vào quan hệ quốc tế

8.3. Hợp tác song phương giữa Đà Nẵng và các địa phương nước ngoài

8.3.1. Xúc tiến và ký kết thỏa thuận quốc tế

8.3.2. Tăng cường quan hệ hữu nghị và trao đổi đoàn

8.3.3. Các chương trình và lĩnh vực hợp tác cụ thể giữa Đà Nẵng và các địa phương nước ngoài

8.4. Hợp tác đa phương của Đà Nẵng trong các tổ chức, diễn đàn quốc tế và khu vực

8.4.1. Tổ chức các sự kiện đối ngoại đa phương

8.4.2. Sự tham gia của thành phố vào các tổ chức, diễn đàn đa phương

8.4.3. Xúc tiến các chương trình, dự án hợp tác trong các khuôn khổ đa phương

8.5. Vai trò của hợp tác quốc tế đối với thành phố Đà Nẵng

8.5.1. Góp phần củng cố đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam

8.5.2. Giữ vững môi trường hòa bình và ổn định; bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ

8.5.3. Tăng cường sự hiện diện của Việt Nam nói chung và của thành phố nói riêng, góp phần quảng bá hình ảnh địa phương

8.5.4. Mở đường cho các chương trình hợp tác trên nhiều lĩnh vực

8.6. Đánh giá chung

9. TRIỂN VỌNG CỦA HỢP TÁC QUỐC TẾ CẤP ĐỊA PHƯƠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI ĐÀ NẴNG

9.1. Đánh giá triển vọng của hợp tác quốc tế cấp địa phương

9.2. Triển vọng của hợp tác quốc tế cấp địa phương trên thế giới

9.3. Triển vọng hợp tác quốc tế của các địa phương Việt Nam và thành phố Đà Nẵng

9.4. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hợp tác quốc tế cấp địa phương ở Đà Nẵng

9.4.1. Tạo cơ sở về chính trị - pháp lý, nâng cao nhận thức về hội nhập và hợp tác quốc tế

9.4.2. Nâng cao hiệu quả hợp tác giữa Đà Nẵng và các địa phương đã thiết lập quan hệ. Mở rộng quan hệ hợp tác với các địa phương nước ngoài mới một cách có chọn lọc

9.4.3. Nâng cao hiệu quả tham gia vào các cơ chế đa phương

9.4.4. Tranh thủ sự hợp tác, giúp đỡ của cơ quan đại diện Việt Nam tại nước ngoài, Bộ Ngoại giao và các bộ, ngành trung ương

9.4.5. Phát triển nguồn nhân lực cho công tác hợp tác quốc tế

9.4.6. Vận dụng hiệu quả công cụ ngoại giao số

10. DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

11. TÀI LIỆU THAM KHẢO

Phụ lục I: Danh sách các địa phương nước ngoài đã thiết lập quan hệ hợp tác với Đà Nẵng

Phụ lục II: Thông tư số 03/2021/TT-BNG ngày 28/10/2021 của Bộ Ngoại giao hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn về công tác đối ngoại của cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh, ủy ban nhân dân cấp huyện

Phụ lục III: Khung định hướng hoạt động công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế của các địa phương trong thời gian tới

Tóm tắt

I. Giới thiệu về hợp tác quốc tế tại Đà Nẵng

Hợp tác quốc tế tại Đà Nẵng từ năm 1997 đến 2020 đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển quan trọng. Thành phố Đà Nẵng, với vị trí địa lý thuận lợi và tiềm năng phát triển kinh tế, đã trở thành một điểm đến hấp dẫn cho các hoạt động hợp tác quốc tế. Hợp tác quốc tế không chỉ giúp Đà Nẵng nâng cao vị thế trên trường quốc tế mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, việc tham gia vào nghiên cứu quốc tế đã trở thành một yêu cầu cấp thiết, giúp Đà Nẵng tiếp cận với các nguồn lực và công nghệ tiên tiến từ các quốc gia khác. Đặc biệt, các dự án hợp tác đã được triển khai trong nhiều lĩnh vực như giáo dục, văn hóa, môi trường và phát triển bền vững, tạo ra những tác động tích cực đến đời sống người dân.

1.1. Tình hình hợp tác quốc tế từ 1997 đến 2020

Từ năm 1997, khi Đà Nẵng trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, quan hệ quốc tế của thành phố đã được mở rộng đáng kể. Các chương trình nghiên cứuhợp tác phát triển đã được thiết lập với nhiều địa phương trên thế giới. Đà Nẵng đã ký kết nhiều thỏa thuận hợp tác với các thành phố như Daegu (Hàn Quốc), Fukuoka (Nhật Bản) và nhiều địa phương khác. Những mối quan hệ này không chỉ dừng lại ở mức độ giao lưu văn hóa mà còn mở rộng sang các lĩnh vực kinh tế, giáo dục và môi trường. Sự tham gia của Đà Nẵng vào các diễn đàn quốc tế cũng đã giúp thành phố quảng bá hình ảnh và thu hút đầu tư từ nước ngoài.

II. Các lĩnh vực hợp tác quốc tế

Hợp tác quốc tế tại Đà Nẵng diễn ra trên nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó nổi bật là giáo dục, văn hóa, và phát triển bền vững. Hợp tác nghiên cứu trong lĩnh vực giáo dục đã giúp nâng cao chất lượng đào tạo và tạo cơ hội cho sinh viên Đà Nẵng tiếp cận với các chương trình học tập quốc tế. Các trường đại học tại Đà Nẵng đã thiết lập quan hệ với nhiều trường đại học danh tiếng trên thế giới, từ đó mở ra nhiều cơ hội học bổng và trao đổi sinh viên. Trong lĩnh vực văn hóa, các sự kiện giao lưu văn hóa đã được tổ chức thường xuyên, giúp tăng cường hiểu biết và tình hữu nghị giữa Đà Nẵng và các địa phương khác. Đặc biệt, hợp tác phát triển bền vững đã được chú trọng, với nhiều dự án nhằm bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.

2.1. Hợp tác trong lĩnh vực giáo dục

Hợp tác giáo dục là một trong những lĩnh vực quan trọng trong hợp tác quốc tế của Đà Nẵng. Thành phố đã ký kết nhiều thỏa thuận hợp tác với các trường đại học quốc tế, tạo điều kiện cho sinh viên Đà Nẵng tham gia các chương trình trao đổi và học bổng. Các chương trình này không chỉ giúp sinh viên nâng cao trình độ mà còn mở rộng tầm nhìn và hiểu biết về văn hóa các nước khác. Đà Nẵng cũng đã tổ chức nhiều hội thảo và hội nghị quốc tế về giáo dục, thu hút sự tham gia của nhiều chuyên gia và học giả từ khắp nơi trên thế giới.

2.2. Hợp tác trong lĩnh vực văn hóa

Hợp tác văn hóa giữa Đà Nẵng và các địa phương quốc tế đã diễn ra sôi nổi, với nhiều sự kiện giao lưu văn hóa được tổ chức. Các hoạt động này không chỉ giúp quảng bá hình ảnh của Đà Nẵng mà còn tạo cơ hội cho người dân địa phương tiếp cận với các nền văn hóa khác nhau. Các chương trình nghệ thuật, triển lãm và lễ hội đã được tổ chức thường xuyên, thu hút sự tham gia của đông đảo người dân và du khách. Điều này không chỉ góp phần nâng cao đời sống văn hóa của người dân Đà Nẵng mà còn thúc đẩy du lịch và phát triển kinh tế địa phương.

III. Đánh giá và triển vọng hợp tác quốc tế

Đánh giá tổng thể về hợp tác quốc tế tại Đà Nẵng cho thấy nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua. Các mối quan hệ quốc tế chưa thực sự mang lại hiệu quả kinh tế như mong đợi. Nhiều chương trình hợp tác chỉ dừng lại ở mức độ giao lưu hữu nghị mà chưa có những dự án cụ thể và thiết thực. Để nâng cao hiệu quả của hợp tác quốc tế, Đà Nẵng cần có những chính sách rõ ràng và cụ thể hơn trong việc xác định mục tiêu và phương hướng hợp tác. Việc tăng cường sự tham gia của các bên liên quan, bao gồm chính quyền, doanh nghiệp và cộng đồng, cũng là yếu tố quan trọng để thúc đẩy hợp tác phát triển trong tương lai.

3.1. Những thách thức trong hợp tác quốc tế

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu, hợp tác quốc tế tại Đà Nẵng vẫn gặp phải một số thách thức. Một trong những vấn đề lớn là thiếu sự đồng bộ trong các chính sách và quy định liên quan đến hợp tác quốc tế. Nhiều địa phương vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể về việc triển khai các hoạt động hợp tác, dẫn đến tình trạng lúng túng trong việc thực hiện. Bên cạnh đó, ngân sách cho các hoạt động hợp tác cũng còn hạn chế, ảnh hưởng đến khả năng triển khai các dự án lớn. Để khắc phục những thách thức này, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng và các bên liên quan.

06/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 (Tổng quan tình hình nghiên cứu): Khảo sát các tài liệu và công trình nghiên cứu liên quan đến hợp tác quốc tế cấp địa phương và hợp tác quốc tế của thành phố Đà Nẵng. - Chương 2 (Cơ sở lý luận và các yếu tố tác động đến hợp tác quốc tế cấp địa phương): Hệ thống hóa và hình thành khung phân tích; giải thích các lý thuyết quan hệ quốc tế, các thuật ngữ, khái niệm được sử dụng để làm sáng tỏ nội hàm hợp tác quốc tế cấp địa phương; phân tích những yếu tố tác động đến hợp tác quốc tế cấp địa phương nói chung. - Chương 3 (Hợp tác quốc tế cấp địa phương trên thế giới và ở Việt Nam): Trình bày chính sách và thực tiễn hợp tác quốc tế song phương và đa phương của một số quốc gia trên thế giới và tại Việt Nam; hợp tác quốc tế trên một số lĩnh vực nổi bật trong thời gian gần đây như phát triển quốc tế và ngoại giao khí hậu. 12 - Chương 4 (Hợp tác quốc tế của thành phố Đà Nẵng): Phân tích các yếu tố trong nước và nội tại tác động đến hợp tác quốc tế của thành phố Đà Nẵng; mục đích thành phố Đà Nẵng tham gia vào quan hệ quốc tế; khái quát chính sách và thực tiễn hợp tác quốc tế song phương và đa phương của thành phố Đà Nẵng.

- Chương 5 (Triển vọng của hợp tác quốc tế cấp địa phương và một số giải pháp đối với thành phố Đà Nẵng): Đánh giá triển vọng của hợp tác quốc tế cấp địa phương trên thế giới và ở Việt Nam, trong đó có thành phố Đà Nẵng; kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế của thành phố Đà Nẵng. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Các công trình nghiên cứu lý luận về chủ thể cấp địa phương của hợp tác quốc tế Năm 1919 được nhiều học giả xem là mốc đánh dấu sự khởi đầu của quan hệ quốc tế với tư cách một ngành nghiên cứu. Từ đó đến nay, những bước tiến vượt bậc về phương pháp luận và học thuyết đã đa dạng hóa các cách tiếp cận và quan điểm phân tích về các vấn đề đối ngoại, bao gồm việc xem xét chủ thể của quan hệ quốc tế.

Tuy nhiên, như nhóm tác giả Mariano Alvarez và tác giả Russell nhận định trong các công trình nghiên cứu của mình [Alvarez, 2020 trích dẫn], việc coi chủ thể của quan hệ quốc tế tương đương với chủ thể của luật quốc tế là không thay đổi. Theo cách hiểu này, chỉ các quốc gia, các tổ chức quốc tế và một số trường hợp ngoại lệ mới được cho là phù hợp để phân tích các mối quan hệ quốc tế. Tiếp đó, các học giả bổ sung các tập đoàn xuyên quốc gia và một số cơ quan cấp nhà nước (ví dụ như các bộ) vào quá trình này, còn thành phần cấp địa phương vẫn chưa được xem xét, nếu có thì cũng thiên về tính hợp pháp và mức độ liên quan thay vì nghiên cứu cách thức và lý do các chính quyền địa phương tham gia vào quan hệ quốc tế. Phải đến năm 1980, theo Reeta C.

Tremblay [1991], với sự ấn hành của các tạp chí Publius (“Federated States and International Relations” - Các quốc gia liên bang và quan hệ quốc tế, 14 [Fall 1984]) và International Journal (“Foreign Policy in Federal States” - Chính sách đối ngoại tại các quốc gia liên bang, 41 [Summer 1986]), quá trình quốc tế hóa của các chính quyền phi trung ương thuộc các quốc gia liên bang bắt đầu được chú ý. Đặc biệt, Ivo D. Duchacek [1984] trong ấn ph m “The International Dimension of Subnational Self-Government” (tạm dịch ra tiếng Việt là “Khía cạnh quốc tế của Chính quyền tự trị địa phương”) đăng trên tạp chí Publius nhận định sự phụ thuộc lẫn nhau ở cấp độ toàn cầu và khu vực cũng như các vấn đề trong nước đã khuyến khích các chính quyền địa phương tăng cường sự hiện diện quốc tế, chủ yếu trên các lĩnh vực tương ứng với th m quyền như xúc tiến thương mại, đầu tư, môi trường, việc làm, năng lượng và du lịch. Sự tham gia của các chính quyền địa phương trong quan hệ quốc tế (thường được gọi là paradiplomacy - ngoại 14 giao song song) dẫn đến những phản ứng khác nhau từ phía chính phủ trung ương, tùy thuộc vào sự nhìn nhận của chính phủ trung ương đối với hoạt động đó như thế nào, có thể là bên lề, bổ trợ, không cần thiết hoặc thậm chí là mâu thuẫn với chính sách đối ngoại quốc gia.

Tiếp theo đó, “Federalism and international relations: The role of subnational units” (Chủ nghĩa liên bang và quan hệ quốc tế: Vai trò của các đơn vị địa phương) của Hans J. Michelmann và Panayotis Soldatos, xuất bản năm 1990, là cuốn sách đầu tiên trình bày chi tiết về ngoại giao song song cả ở khía cạnh lý thuyết lẫn ví dụ thực tiễn. Tuy nhiên, các tác giả chỉ tập trung vào chính quyền địa phương ở các quốc gia liên bang, thông qua việc phân tích trường hợp bảy quốc gia theo mô hình này, gồm Úc, Áo, Bỉ, Canada, Cộng hòa Liên bang Đức, Thụy Sĩ, và Hoa Kỳ. Qua đó, các lý do và động lực khiến các chủ thể địa phương tham gia vào hoạt động quốc tế được làm rõ, với động lực kinh tế đóng vai trò quan trọng.

Ngoài ra, các yếu tố như quy định của hiến pháp và thể chế, bản chất và năng lực của bộ máy chính quyền, cơ cấu kinh tế, truyền thống tham gia vào hoạt động quốc tế v. đều ảnh hưởng đến mức độ tham gia của địa phương vào quan hệ quốc tế. Bài viết của Brian Hocking [1999] trên tạp chí Regional and Federal Studies (Nghiên cứu Khu vực và Liên bang) với chủ đề “Patrolling the ‘frontier’: Globalisation, localisation and the ‘actorness’ of non‐central governments” (Đi dọc ranh giới: Toàn cầu hóa, địa phương hóa và tính chủ thể của các chính quyền phi trung ương) cũng đi vào phân tích các tiêu chí quyết định vai trò chủ thể quốc tế của các địa phương, bao gồm mục tiêu và động lực, biên độ và định hướng tham gia, cơ cấu và nguồn lực, các mức độ tham gia, và chiến lược của từng địa phương. Khác với các nghiên cứu trước đó về ngoại giao song song, vốn tách rời và tập trung vào so sánh tầm quan trọng của chủ thể trung ương - chủ thể địa phương, tác giả nhấn mạnh chính quyền phi trung ương là một phần của môi trường chính sách đa tầng ngày càng phức tạp cấu thành nên nền chính trị thế giới, trong đó các chủ thể đôi khi xung đột nhưng đa phần là phụ thuộc lẫn nhau.

Chính trong bối cảnh đó, ph m chất/đặc tính (qualities) của từng chủ thể đóng vai trò quan trọng quyết định chủ thể đó có thành công trong môi trường quốc tế hay không. 15 Trong cuốn “Theory and Practice of Paradiplomacy” (Lý thuyết và Thực tiễn Ngoại giao song song) ấn hành năm 2015, Alexander S. Kuznetsov đã đưa ra một nhận định rất thú vị về đặc tính của chủ thể cấp địa phương trong quan hệ quốc tế. Theo đó, chính quyền địa phương là chủ thể duy nhất có bản chất giống với quốc gia, là một phần trong cấu trúc hiến định của quốc gia.

Tuy nhiên, khác với chính sách đối ngoại của quốc gia, Michael Keating [2000] trong bài viết “Paradiplomacy and Regional Networking” (Ngoại giao song song và Kết nối vùng) nhấn mạnh rằng ngoại giao địa phương không đại diện cho lợi ích chung rộng rãi và không cần phải bao quát toàn diện. Các vùng (regions) không có các chính quyền có chủ quyền để hoạt động trên cơ sở “lợi ích quốc gia” một cách thống nhất và xuyên suốt. Địa phương là những thực thể phức tạp gồm nhiều cộng đồng có thể chia sẻ những lợi ích chung nhưng cũng có thể khác biệt về nhiều vấn đề, do đó chính quyền địa phương cần tập hợp nhiều chủ thể độc lập khác nhau đối với từng chương trình và vấn đề riêng biệt. Các công trình nghiên cứu về lý luận và thực tiễn hợp tác quốc tế cấp địa phương 1.

Các công trình nghiên cứu về ngoại giao song song (paradiplomacy) Tại chuyên đề “Chinese Paradiplomacy: A Theoretical Review” (Ngoại giao song song của Trung Quốc: Tổng quan lý thuyết), hai tác giả Tianyang Liu và Yao Song [2020] đã khái quát quá trình hình thành và phát triển các công trình nghiên cứu về ngoại giao song song thành ba giai đoạn. Đây cũng là cách phân chia mà Kuznetsov [2015] đã áp dụng trong cuốn “Theory and Practice of Paradiplomacy”, tuy nhiên Kuznetsov chia thêm giai đoạn thứ tư là từ những năm 2000 trở về sau. Theo đó, giai đoạn thứ nhất bắt đầu vào những năm 1970, đánh dấu sự ra đời của chủ đề nghiên cứu về ngoại giao song song với các trường hợp được nghiên cứu tập trung ở khu vực Bắc Mỹ, tiêu biểu có các bài viết “The role of the provinces in international affairs” (Vai trò của các tỉnh trong các vấn đề quốc tế) của Ronald G. Atkey năm 1970; “Province-state trans-border relations: A preliminary assessment” (Quan hệ xuyên biên giới tỉnh-bang: Đánh giá sơ bộ) của Richard H.

Walker và Thomas Allen Levy năm 1973; hay “Bilateral institutions and 16 transgovernmental relations between Canada and the United States” (Các thể chế song phương và quan hệ liên chính phủ giữa Canada và Hoa Kỳ) của Kal J. Holsti và Thomas Allen Levy năm 1974 [Liu và Song, 2020]. Tiếp theo, giai đoạn thứ hai là những năm 1980, các học giả bắt đầu chuyển trọng tâm từ việc chỉ đơn thuần mô tả hiện tượng sang việc định hình các công cụ lý thuyết và thuật ngữ để phân tích và trình bày về ngoại giao song song. Trong đó, nổi bật nhất là Panayotis Soldatos [1990, trang 25] với việc phân tích thuật ngữ “ngoại giao song song” (paradiplomacy), cụ thể theo tác giả, tiền tố “para” không chỉ là “song song” (parallel) mà như từ điển Webster định nghĩa còn là “lệ thuộc hoặc phụ trợ”.

Bên cạnh “paradiplomacy”, hàng loạt khái niệm khác cũng được đề xuất trong giai đoạn này để mô tả hiện tượng tham gia vào quan hệ quốc tế của chính quyền địa phương, ví dụ như “ngoại giao đa chủ thể - plurinational diplomacy” [Duchacek, 1984], “ngoại giao vi mô - microdiplomacy” [Duchacek, 1984], “ngoại giao ly khai - protodiplomacy” [Duchacek và các đồng tác giả, 1988], “ngoại giao cấu thành - constituent diplomacy” [Kincaid, 1990], hay “ngoại giao đa tầng - multi-layered diplomacy” [Hocking, 1993]. Cuối cùng, giai đoạn thứ ba là từ những năm 1990 trở về sau (và cả giai đoạn thứ tư từ những năm 2000 như theo cách phân chia của Kuznetsov), địa bàn nghiên cứu về ngoại giao song song đã mở rộng, đầu tiên là từ châu Mỹ sang châu Âu, sau đó sang các quốc gia phi phương Tây.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu hợp tác quốc tế tại Đà Nẵng (1997-2020)" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quá trình và kết quả của các hoạt động hợp tác quốc tế tại thành phố Đà Nẵng trong khoảng thời gian 23 năm. Tác giả phân tích các lĩnh vực hợp tác chính, những thách thức gặp phải và những thành tựu nổi bật, từ đó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng mối quan hệ quốc tế trong phát triển kinh tế - xã hội. Bài viết không chỉ giúp độc giả hiểu rõ hơn về bối cảnh hợp tác quốc tế tại Đà Nẵng mà còn mở ra những cơ hội học hỏi từ các mô hình thành công khác.

Nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh quản lý ngân sách nhà nước, có thể tham khảo thêm bài viết Luận văn thạc sĩ quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Nhà Bè, TP HCM, nơi phân tích cách thức quản lý ngân sách tại một địa phương cụ thể. Ngoài ra, bài viết Luận văn thạc sĩ quản lý ngân sách nhà nước cấp xã trên địa bàn huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh hiện nay cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về quản lý ngân sách ở cấp xã. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu về Luận văn thạc sĩ HCMUTE quản lý chi ngân sách nhà nước ở huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp để có cái nhìn tổng quát hơn về các phương pháp quản lý ngân sách tại các địa phương khác nhau. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu biết về các vấn đề liên quan đến quản lý nhà nước và hợp tác quốc tế.