Chương 1: Cơ sở khoa học về tạo động lực làm việc cho công chức phường Chương 2: Thực trạng tạo động lực làm việc cho công chức phường tại thành phố Tân An, tỉnh Long An Chương 3: Giải pháp tạo động lực làm việc cho công chức phường tại thành phố Tân An, tỉnh Long An. 7 Chƣơng 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO CÔNG CHỨC PHƢỜNG 1. Một số vấn đề chung về công chức phƣờng 1. Khái niệm công chức cấp phường Ở Việt Nam, khái niệm công chức sớm được hình thành và ngày càng hoàn thiện cùng với sự phát triển của nhà nước ta.
Sau thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành sắc lệnh số 76/SL, ngày 20/5/1950 ban hành quy chế công chức, xác định công chức Việt Nam là những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan của Chính phủ, ở trong hay ngoài nước, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định. Từ đó đến nay, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản khác nhau quy định những người là công chức như Nghị định số 169/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ban hành ngày 25/5/1991 về công chức; Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 2003 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bước vào thời kỳ đổi mới, để đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, ngày 13/11/2008 Quốc hội đã thông qua Luật Cán bộ, công chức. Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2018 đã đưa ra 4 khái niệm: Cán bộ, công chức, cán bộ cấp xã và công chức cấp xã.
Công chức cấp xã là công dân Việt Nam, được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã (xã, phường, thị trấn). 8 Như vậy, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 không có quy định khái niệm công chức xã, công chức phường hay công chức thị trấn riêng biệt mà công chức làm việc ở xã, phường hoặc thị trấn thì đều gọi chung là công chức cấp xã, bao gồm các chức danh sau: Trưởng Công an (nơi chưa bố trí công an chính quy), Chỉ huy trưởng Quân sự, Văn phòng - thống kê, Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc Địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đổi với xã), Tài chính - kế toán, Tư pháp - hộ tịch, Văn hóa - xã hội. Vai trò của công chức phường 1. Là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân Theo quy định của Hiến pháp năm 2013, cấp xã bao gồm xã, phường, thị trấn, là cấp gần dân nhất, trực tiếp tổ chức thực hiện mọi chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước trong thực tế đời sống.
Mọi hoạt động của Ủy ban nhân dân phường đều do cán bộ, công chức phường thực hiện. Do đó, công chức phường là một bộ phận không thể thiếu trong đội ngũ cán bộ, công chức. Họ luôn phát huy vai trò của mình trong đời sống chính trị - xã hội của đất nước, của các địa phương. Vai trò của đội ngũ công chức phường thể hiện rất rõ qua nhiều hoạt động thi hành công vụ của đội ngũ công chức này.
Ủy ban nhân dân phường quản lý có tốt hay không một phần quan trọng là do công chức phường. Công chức phường là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, họ là những người trực tiếp tuyên truyền, giải thích, hướng dẫn để người dân có thể nắm bắt kịp thời, hiểu và thực hiện đúng đắn các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đồng thời trực tiếp tiếp nhận những phản hồi từ phía người dân như kiến nghị, phản ánh những bất cập của chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có liên quan trực tiếp đến đời sống người dân để các cơ quan chức năng có thể 9 nghiên cứu sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh kịp thời. Như vậy, có thể nói chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước dù đúng đắn nhưng nếu đội ngũ công chức phường không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ cũng sẽ ảnh hưởng lớn đến sự thành công hay thất bại của chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật đó.
Quản lý và tổ chức công việc của Ủy ban nhân dân phường Công chức phường có vai trò quan trọng trong quản lý và tổ chức công việc của Ủy ban nhân dân phường. Mỗi công chức phường đều gắn với một chức danh công chức cụ thể, tương ứng với vị trí việc làm của chức danh công chức đang đảm nhận mà công chức sẽ phải thực hiện những nhiệm vụ khác nhau theo quy định của pháp luật. Hoạt động thực thi công vụ của công chức trước hết là đảm bảo trật tự, kỷ cương nhà nước đề ra, đồng thời đảm bảo thực hiện quyền làm chủ, lợi ích chính đáng, hợp pháp của người dân. Thực tiễn cho thấy, nơi nào công chức phường thực thi công vụ có trách nhiệm, nhiệt tình, hăng hái với công việc thì người dân được phục vụ tốt, hoạt động quản lý của chính quyền trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, quốc phòng.
đều đạt kết quả tốt, niềm tin của nhân dân vào đội ngũ công chức phường nói riêng, đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước nói chung ngày càng tăng. Ngược lại, nếu công chức phường không thể hiện được tinh thần trách nhiệm trước nhân dân, yếu kém về trình độ, năng lực, gân phiền hà, hách dịch, không tôn trọng nhân dân.sẽ gây bức xúc, làm giảm niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của nhà nước. Xây dựng, hoàn thiện bộ máy chính quyền ở phường Trong lịch sử xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta, đã có một thời gian dài vai trò của đội ngũ những người là công chức phường chưa được đánh giá một cách toàn diện và đầy đủ. Từ khi có Luật cán bộ, công chức năm 2008 cho đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định vai trò quan trọng 10 của đội ngũ công chức phường trong hoàn thiện tổ chức bộ máy và hoạt động quản lý nhà nước của chính quyền ở phường.
Chính sự quan tâm, thay đổi theo hướng tích cực đó đã giúp cho đội ngũ công chức phường ngày càng đủ về số lượng, đáp ứng về chất lượng trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Yêu cầu đối với công chức phường Ở Việt Nam, công chức phường tùy theo vị trí công tác cần phải đáp ứng các yêu cầu nhất định. Các yêu cầu này chủ yếu tập trung vào các tiêu chuẩn về học vấn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị, phẩm chất đạo đức, thời gian công tác, tuổi đời. Tiêu chuẩn về học vấn và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ là một trong những tiêu chuẩn quan trọng, là cơ sở để cán bộ, công chức đáp ứng được yêu cầu công vụ, hoàn thành được các nhiệm vụ trên cương vị công tác của mình.
Tiêu chuẩn về trình độ chính trị nhằm đảm bảo công chức phường thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tiêu chuẩn về phẩm chất đạo đức đòi hỏi công chức phải có tư cách, tác phong, cách ứng xử tốt, theo đúng chuẩn mực trong mối quan hệ ở gia đình, với đồng nghiệp, với nhân dân. Tiêu chuẩn về thời gian công tác, tuổi đời là tiêu chuẩn cần thiết đối với công chức nói chung và công chức phường nói riêng vì tuổi đời phản ánh năng lực làm việc, thời gian làm việc còn lại bao lâu, thái độ của công chức đối với sự đổi mới của nền công vụ. Ngoài những tiêu chuẩn trên, công chức phường còn phải đáp ứng các yêu cầu về sức khỏe và các yêu cầu khác phù hợp với từng vị trí công tác và từng điều kiện, đặc điểm của từng địa phương và vùng, miền.
Pháp luật về cán bộ, công chức quy định tiêu chuẩn cho công chức phường bao gồm tiêu 11 chuẩn chung cho mọi công chức phường và các tiêu chuẩn riêng cho từng đối tượng công chức cụ thể. Những tiêu chuẩn chung đối với công chức phường được quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định 112/2011/NĐ-CP ngày 05 tháng 12 năm 2011 của Chính phủ. Cụ thể như sau: Một là, đối với các công chức Văn phòng - thống kê, Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc Địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã), Tài chính - kế toán, Tư pháp - hộ tịch, Văn hóa - xã hội: Hiểu biết về lý luận chính trị, nắm vững quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Có năng lực tổ chức vận động nhân dân ở địa phương thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Có trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm, có đủ năng lực và sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ được giao. Am hiểu và tôn trọng phong tục, tập quán của cộng đồng dân cư trên địa bàn công tác. Hai là, đối với công chức Chỉ huy trưởng Quân sự phường và Trưởng Công an phường, ngoài những tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định 112/2011/NĐ-CP còn phải có khả năng phối hợp với các đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và lực lượng khác trên địa bàn tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thực hiện một số nhiệm vụ phòng thủ dân sự, giữ gìn an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Đảng, chính quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản của nhà nước. 12 Những tiêu chuẩn cụ thể đối với công chức phường được quy định tại khoản 1 Điều 2 Thông tư số 06/2012/TT-BNV ngày 30 tháng 10 năm 2012 của Bộ Nội vụ.
Cụ thể như sau: Một là, công chức phường phải có đủ các tiêu chuẩn chung quy định tại Điều 3 Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 05 tháng 12 năm 2011 của Chính phủ về công chức xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Nghị định số 112/2011/NĐ-CP) và các tiêu chuẩn cụ thể sau: Độ tuổi: Đủ 18 tuổi trở lên. Trình độ văn hóa: Tốt nghiệp trung học phổ thông.