Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý chi ngân sách nhà nước Chương 2: Thực trạng quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Cao lãnh, tỉnh Đồng Tháp 9 Luan van PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1.1 Ngân sách nhà nƣớc 1.1 Khái niệm Ngân sách nhà nước - với ý nghĩa là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của nhà nước, ra đời từ rất sớm cùng với sự hình thành của nhà nước. Và trong lịch sử, thuật ngữ NSNN xuất hiện khi nhà nước đã phát triển đến một giai đoạn nhất định mà ở đó sự phân biệt giữa tài chính công và tài chính tư đã trở nên cần thiết như một nhu cầu cần thiết. Qua đó có thể thấy NSNN là một phạm trù kinh tế mang tính lịch sử, phản ánh những mặt nhất định của các quan hệ kinh tế thuộc lĩnh vực phân phối sản phẩm xã hội trong điều kiện còn tồn tại trong quan hệ hàng hóa - tiền tệ và được sử dụng như một công cụ thực hiện các chức năng của nhà nước.
Điều này có ý nghĩa là sự ra đời và tồn tại của NSNN gắn liền với sản xuất hàng hóa, với sự ra đời, tồn tại của nhà nước. Thuật ngữ NSNN được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế - xã hội ở mọi quốc gia. Trên thực tế người ta đưa ra nhiều định nghĩa về NSNN không giống nhau và tùy thuộc vào các góc độ xem xét khác nhau. Cụ thể: Theo bách khoa toàn thư về kinh tế học và khoa học quản lý do A.
Silem biên soạn, NSNN (le budget) là một bản dự báo và cho phép thực hiện các khoản thu và các khoản chi trong năm của nhà nước. Định nghĩa của nhà khoa học người pháp này nhằm nhấn mạnh tính kế hoạch thu, chi đã được phê chuẩn của Nhà nước trong một niên hạn nhất định (một năm) mà chưa chú ý đến vị trí, tầm quan trọng cũng như bản chất của NSNN. Theo Luật NSNN của Việt Nam đã được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 25/06/2015, định nghĩa: NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước. 10 Luan van Theo giáo trình lý thuyết tài chính: “NSNN là phạm trù kinh tế và phạm trù lịch sử.
NSNN được đặc trưng bằng sự vận động của các nguồn tài chính gắn liền với quá trình tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước và các chủ thể trong xã hội, phát sinh khi nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu”. Theo giáo trình quản lý tài chính công: “NSNN là dự toán hàng năm về toàn bộ các nguồn tài chính được huy động cho Nhà nước và sử dụng các nguồn tài chính đó nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng của Nhà nước do hiến pháp quy định”. Qua đó có thể thấy NSNN, trước hết là một khái niệm thuộc phạm trù kinh tế học hay hẹp hơn là tài chính học. Xét từ góc độ này, NSNN được hiểu là bản dự toán các khoản thu và chi tiền tệ của một quốc gia, được cơ quan có thẩm quyền của nhà nước quyết định để thực hiện trong thời hạn nhất định, thường là một năm.2 Hệ thống ngân sách nhà nƣớc Hệ thống NSNN là một thể thống nhất được tạo thành bởi các bộ phận cấu thành là các khâu ngân sách độc lập nhưng giữa chúng có mối quan hệ qua lại lẫn nhau trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ thu, chi của mình.
Tổ chức hệ thống NSNN là xác định, sắp xếp, bố trí các bộ phận cấu thành hệ thống NS nhằm thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ thu, chi của từng cấp ngân sách cũng như của toàn bộ hệ thống NSNN. Tổ chức hệ thống NSNN gắn bó chặt chẽ với việc tổ chức bộ máy nhà nước với vị trí và vai trò đó trong quá trình phát triển KT - XH của đất nước. Ở nước ta, hệ thống NSNN dựa trên các nguyên tắc: (Lê Chi Mai, 2006) Một là nguyên tắc thống nhất, tập trung, dân chủ. Là một quốc gia thống nhất, nước ta có một hệ thống NSNN thống nhất do Quốc hội phê chuẩn dự toán và quyết toán ngân sách, Chính phủ thống nhất và quản lý NSNN.
Nguyên tắc tổ chức bộ máy Nhà nước ta là nguyên tắc tập trung dân chủ. NSNN là công cụ của Nhà nước, vì vậy hệ thống NSNN cũng được xây dựng theo nguyên tắc đó. Ở mỗi cấp chính quyền, HĐND thảo luận NS cấp mình, nhưng phải được UBND cấp trên và chính phủ xét duyệt lại để thống nhất vào NS cấp trên và 11 Luan van NSNN. Ngân sách cấp trên đều phải chấp hành các Luật , các nghị quyết của Quốc hội, các quyết định của Chính phủ về chế độ thu chi, các định mức, tiêu chuẩn chi tiêu, mục lục NSNN và các quy định khác có liên quan.
Hai là, nguyên tắc đảm bảo tính phù hợp giữa cấp ngân sách với cấp chính quyền Nhà nước. Nguyên tắc này xuất phát từ yêu cầu bảo đảm nguồn tài chính cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mỗi cấp chính quyền Nhà nước. Mỗi cấp chính quyền đều có ngân sách của cấp mình, có nguồn thu và có khoản chi, có quyền quyết định ngân sách của cấp mình trên cơ sở chấp hành pháp Luật của Nhà nước. Từ đó giúp phát huy được quyền dân chủ, tính chủ động và tích cực trong khai thác nguồn thu, quản lý chi tiêu nhưng cũng cần đề phòng nảy sinh tính cục bộ địa phương và dễ phân tán nguồn tài chính có hạn.
NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC Ngân sách trung ương Ngân sách địa phương Ngân sách cấp tỉnh Ngân sách cấp huyện Đơn vị dự toán cấp huyện Đơn vị sự nghiệp Cấp xã trực thuộc Hình 1.1: Sơ đồ hệ thống NSNN Việt Nam (Nguồn: Tác giả thực hiện dựa trên Luật NSNN).2 Ngân sách nhà nƣớc cấp huyện NS cấp huyện mang bản chất của NSNN, đó chính là các mối quan hệ giữa cấp NS huyện với các tổ chức, cá nhân trên địa bàn huyện trong quá trình phân bổ, sử dụng với bản chất nhà nước xã hội chủ nghĩa. 12 Luan van Ngân sách huyện là công cụ quan trọng của chính quyền cấp huyện trong việc ổn định và phát triển KT - XH trên địa bàn. Khi xem xét ngân sách huyện không tách rời khỏi NSNN cấp trên nhưng cũng không được coi ngân sách huyện là yếu tố thụ động trong hệ thống ngân sách. Theo đó, ngân sách huyện là toàn bộ các khoản thu - chi được quy định dựa vào dự toán trong một năm do HĐND huyện quyết định và giao cho UBND huyện tổ chức chấp hành nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp huyện.
Quan niệm trên có thể giúp chúng ta hình dung được ngân sách huyện và cơ quan quyết định cũng như cơ quan chấp hành ngân sách huyện. Tuy nhiên, quan điểm trên chưa phản ánh được các mối quan hệ tiền tệ mà thực chất là quan hệ lợi ích kinh tế chứa đựng trong ngân sách huyện. Thực tiễn chỉ ra rằng khi các khoản thu, chi ngân sách huyện diễn ra tất yếu sẽ nảy sinh sự vận động của nguồn tài chính từ chủ thể (người) nộp đến ngân sách huyện, từ ngân sách huyện đến những mục đích sử dụng nào đó. Toàn bộ quá trình thu tác động đến lợi ích, nghĩa vụ của người nộp và toàn bộ các khoản chi sẽ mang lại lợi ích cho dân cư, hộ gia đình.
Sự vận động của các nguồn tài chính vào ngân sách huyện và từ NSH đến các mục đích sử dụng khác nhau chứa đựng các mối quan hệ cụ thể: Thứ nhất, quan hệ giữa chính quyền cấp huyện với các cấp chính quyền cấp trên thể hiện trong việc xác định cho các huyện nguồn thu được phân chia giữa các cấp ngân sách và thể hiện trong sự hỗ trợ bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp huyện. Thứ hai, quan hệ giữa chính quyền cấp huyện với các tổ chức kinh tế huyện được thể hiện trong việc các tổ chức này nộp thuế, phí - lệ phí cho NSH và ngược lại NSH cũng phải chi trực tiếp, gián tiếp cho tổ chức này. Thứ ba, quan hệ giữa chính quyền nhà nước với nhân dân trong huyện được thể hiện khi ngân sách cấp trên cấp kinh phí ủy quyền, chuyển giao cho NSH thực hiện. Đó là chương trình quốc gia như chương trình dân số và kế hoạch hóa gia đình, chương trình phổ cập giáo dục.
13 Luan van Thứ tư, quan hệ giữa cấp chính quyền huyện với các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước. Đó là mối quan hệ thông qua việc biếu tặng, giúp đỡ, tài trợ của các tổ chức cá nhân đó đối với huyện và là một khoản thu của NSH. Thứ năm, quan hệ giữa cấp chính quyền huyện với tổ chức Đảng và các tổ chức chính trị xã hội khác trong việc hình thành và sử dụng quỹ ngân sách. Quan hệ này được thể hiện ngân sách cấp kinh phí cho các hoạt động của Đảng và các tổ chức chính trị xã hội trong huyện.
Tất cả các mối quan hệ được trình bày ở trên phản ánh các nội dung thu và chi ngân sách cấp huyện. Tóm lại, NSH là quỹ tiền tệ tập trung của huyện được hình thành bằng các nguồn thu và đảm bảo các khoản chi trong phạm vi huyện. Nó phản ánh những mối quan hệ một bên là chính quyền cấp huyện với một bên là các chủ thể khác thông qua sự vận động của các nguồn tài chính, nhằm đảm bảo thực hiện chức năng, nhiệm vụ của chính quyền huyện.3 Quản lý ngân sách nhà nƣớc cấp huyện Quản lý nói chung được quan niệm như một quy trình mà chủ thể quản lý tiến hành thông qua việc sử dụng các công cụ và phương pháp thích hợp nhằm tác động và điều khiển đối tượng quản lý hoạt động phát triển phù hợp với quy Luật khách quan và đạt tới các mục tiêu đã định. Trong hoạt động quản lý, các vấn đề về: chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, công cụ và phương pháp quản lý, mục tiêu quản lý là những yếu tố trung tâm đòi hỏi phải xác định đúng dắn.