Chương 1: Giới thiệu: Trình bày tóm lược vấn đề nghiên cứu bao gồm các nội dung sau: Lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu; câu hỏi nghiên cứu; đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu; mô hình nghiên cứu; ý nghĩa và hạn chế đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Ở chương này, các khái niệm về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) và lý thuyết về kinh tế học năng lực cạnh tranh, PCI và các chỉ số thành phần của PCI. Đồng thời, tác giả cũng trình bày tóm tắt các nghiên cứu trước có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài để làm cơ sở đưa ra mô hình nghiên cứu.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu. Từ cơ sở lý thuyết trình bày ở chương 2 và các nghiên cứu trước có liên quan, tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu. Bên cạnh đó, phương pháp nghiên cứu, cách thức đo lường các 5 biến trong mô hình nghiên cứu, cách thu thập và các kỹ thuật phân tích số liệu cũng sẽ được trình bày cụ thể trong chương này. Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu.
Chương này trình bày thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu, phân tích các kết quả nghiên cứu để trả lời các câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu và kiểm định các giải thuyết đã được đặt ra. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị. Nội dung chương này trình bày tóm tắt các kết quả nghiên cứu và đưa ra các khuyến nghị có liên quan. Đồng thời cũng chỉ ra giới hạn trong nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT Tại chương này, đầu tiên đề tài sẽ tìm hiểu về khái niệm và những lý thuyết có liên quan đến năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Đồng thời, tác giả cũng trình bày tóm tắt các nghiên cứu trước có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài để làm cơ sở đưa ra các yếu tố tác động đến năng lực cạnh trạnh cấp tỉnh PCI của các địa phương Việt Nam, trên cơ sở đó đưa ra mô hình nghiên cứu. Năng lực cạnh tranh 2. Khái niệm cạnh tranh Cạnh tranh nói chung, cạnh tranh trong nền kinh nói riêng là một khái niệm mà có nhiều cách hiểu khái niệm này khác nhau.
Cạnh tranh tồn tại từ cấp độ vi mô đến cấp độ vĩ mô, nó bao trùm mọi lĩnh vực đời sống, kinh tế-xã hội. Cạnh tranh được sử dụng rộng rãi thể hiện qua giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với tập thể, giữa giai cấp này với giai cấp khác, giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, giữa ngành với ngành, giữa địa phương này với địa phương kia, giữa quốc gia này với các quốc gia khác…, và có nhiều khái niệm về cạnh tranh khác nhau: Theo Từ điển Kinh doanh Anh (1992), cạnh tranh là “Sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm tranh giành tài nguyên sản xuất cùng một loại hàng hóa về phía mình”. Theo một vài tác giả như Krugman (1996) hay Porter (1992) cho rằng cạnh tranh giống như năng suất của một tổ chức hay một cá nhân. Đứng ở góc độ doanh nghiệp, theo Giáo sư kinh tế học Mỹ Paul A.
Samuelson (1948) cho rằng cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp với nhau để dành khách hàng hoặc thị trường. Trong báo cáo về cạnh tranh toàn cầu (WEF, 2015), tại diễn đàn Liên Hợp Quốc thì cho rằng cạnh tranh đối với một quốc gia là: “Khả năng của nước đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt được các tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao được xác định bằng các thay đổi của sản phẩm quốc nội (GDP) tính trên đầu người theo thời gian”. 7 Cạnh tranh vùng có thể thu hút sự thành công của các hãng sản xuất, sẽ góp phần tăng trưởng kinh tế, duy trì và gia tăng mức sống của người dân (Huggins and Thompson, 2010). Từ những khái niệm về “cạnh tranh” trên, có thể cho thấy về cơ bản “cạnh tranh” là quá trình nhằm giành lấy phần hơn, phần thắng về mình, một chủ thể nỗ lực vượt qua đối thủ của mình, thắng chủ thể mình để đạt được một hay một số mục tiêu nhất định.
Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một điều kiện và là yếu tố khích thích sản xuất, kinh doanh, là môi trường động lực thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển, tăng năng suất lao động, tạo sự phát triển kinh tế xã hội. Do vậy, khái niệm cạnh tranh có thể định nghĩa dưới 4 cấp độ sau: Cấp độ quốc gia: Cạnh tranh là khả năng của một nước đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, hấp dẫn thu hút được đầu tư trong và ngoài nước, đảm bảo ổn định kinh tế-xã hội, nâng cao đời sống của người dân và đạt được các tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao đươc xác định bằng sự thay đổi tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trên đầu người theo thời gian. Cấp vùng/địa phương/tỉnh/thành: Cạnh tranh cấp tỉnh là sự ganh đua giữa các chính quyền cấp vùng/địa phương/tỉnh/thành, thông qua quá trình đổi mới và sáng tạo liên tục để tạo ra môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi thu hút đầu tư và phát triển kinh tế, tăng năng suất, sản xuất kinh doanh hiệu quả, tăng trưởng kinh tế, nhằm mục tiêu phát triển bền vững tỉnh nhà nói riêng và cả nước nói chung. Cấp độ ngành: Cạnh tranh là duy trì được lợi nhuận và thị phần trên các thị trường trong và ngoài nước.
Cấp độ doanh nghiệp: Cạnh tranh là sự đối đầu giữa các doanh nghiệp với nhau để giành khách hàng hoặc thị phần. Khái niệm năng lực cạnh tranh Thuật ngữ năng lực cạnh tranh được sử dụng rộng rãi trong phạm vi toàn cầu nhưng đến nay vẫn chưa có sự thống nhất giữa các tác giả, các nhà chuyên môn về khái niệm cũng như cách đo lường, phân tích năng lực cạnh tranh ở cấp độ quốc gia, 8 cấp tỉnh, cấp ngành và cấp doanh nghiệp. Có nhiều khái niệm, định nghĩa khác nhau vể năng lực cạnh tranh như sau: Theo Porter (1998), khái niệm có ý nghĩa duy nhất về năng lực cạnh tranh là năng suất, hay nói cách khác năng suất là yếu tố quan trọng nhất trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh, duy trì tăng trưởng nhanh và bền vững. Năng suất lao động là thước đo duy nhất về năng lực cạnh tranh (Porter, 1990).
Ở cấp độ quốc gia, khái niệm năng lực cạnh tranh có ý nghĩa là năng suất sản xuất quốc gia. Năng lực cạnh tranh quốc gia được đo lường bằng năng suất sử dụng lao động, vốn, và tài nguyên thiên nhiên, trong đó: Năng suất quyết định mức sống bền vững (lương, lợi nhuận từ vốn và từ tài nguyên thiên nhiên). Năng suất của một nền kinh tế xuất phát từ sự phối hợp của cả doanh nghiệp nội địa và nước ngoài. Của cải và việc làm phụ thuộc vào năng lực cạnh tranh doanh nghiệp.
Các quốc gia cạnh tranh với nhau trong việc tạo ra môi trường có năng suất cao nhất cho doanh nghiệp. Khu vực công và tư có vai trò khác nhau nhưng bổ sung cho nhau trong việc tạo ra một nền kinh tế có năng suất (Nguyễn Xuân Thành, 2014). Chính Phủ có chức năng cải thiện môi trường, điều kiện thúc đẩy nâng cao năng suất, nâng cao chất lượng và hiệu quả của các công trình hạ tầng, ban hành chính sách nhằm kích thích sáng tạo và tăng năng suất của các doanh nghiệp. Trong đó năng lực cạnh tranh quốc gia chủ yếu phát sinh từ chính sách chính phủ áp dụng, nghĩa là nó phụ thuộc rất lớn vào năng lực xác định mục tiêu, hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách của Chính Phủ (Phan Nhật Thanh, 2012).
Ở gốc độ doanh nghiệp, khái niệm năng lực cạnh tranh được đề cập đầu tiên ở Mỹ, doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm và dịch vụ với chất lượng vượt trội và giá cả thấp hơn các đối thủ khác trong nước và quốc tế. Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt lợi ích lâu dài của doanh nghiệp và khả năng bảo đảm thu nhập cho người lao động và chủ doanh nghiệp (Aldington Report, 1985). Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần được gắn kết với việc thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp (Buckley, 1988). 9 Ở góc độ địa phương, năng lực cạnh tranh của địa phương thường xuất hiện trong lý thuyết về thể chế trong đó nhấn mạnh đến vai trò của thể chế và sự thay đổi của thể chế tác động đến tăng trưởng kinh tế.
Năng lực cạnh tranh của địa phương được hiểu là năng lực thể chế của địa phương đó trong việc thiết lập các luật lệ, các tiến trình cần phải tuân thủ, các quy tắc về đạo đức (North, 1981). Những vấn đề này được dùng để ràng buộc các hành vi cá nhân trong cùng một mục đích chung là tối đa hóa lợi ích hay tài sản (North, 1991). Từ những khái niệm và định nghĩa về năng lực cạnh tranh, có thể khái quát năng lực cạnh tranh như sau: Năng lực cạnh tranh, là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong mọi hoạt động sinh hoat, sản xuất, kinh doanh nhằm mở rộng qui mô, phát triển thị phần, mở rộng mạng lưới, thu hút và sử dụng hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt được lợi ích kinh tế cao và bền vững. Khái niệm năng lực cạnh tranh cấp tỉnh Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (Provincial Competativeness) được sử dụng phổ biến trong đo lường thực tiễn cũng gần với ngữ nghĩa với thuật ngữ năng lực cạnh tranh của thành phố (Urban Compatativeness) của World Bank (Webster và Muller, 2000) và khá gần với thuật ngữ năng lực cạnh tranh cấp vùng (Regional Comparativeness) được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu.
Theo Webster và Muller (2000) đã cho rằng năng lực cạnh tranh của thành phố là khả năng thành phố đó có thể sản xuất cũng sản phẩm cũng như tạo thị trường cho việc bán sản phẩm đó trong khi phải cạnh tranh với các thành phố khác. Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh là năng lực cạnh tranh của một địa phương cấp tỉnh được hiểu là khả năng của một địa phương thu hút đầu tư phát triển kinh tế - xã hội theo những mục tiêu đã định trên cơ sở lợi thế của địa phương trong mối quan hệ liên kết với địa phương khác thuộc phạm vi quốc gia.