CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁM SÁT, PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM 1. Vị trí, vai trò, chức năng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị 1. Vị trí của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận hệ thống chính trị của nước ta hiện nay. Sự qui định này là một tất yếu khách quan của sự nghiệp cách mạng, là xuất phát từ thể chế chính trị của nước ta là một nước của dân, do dân, vì dân, mọi quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân.
Đây là vấn đề lịch sử, vấn đề truyền thống. Hiến pháp năm 2013 của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Với tư cách là vị trí chiến lược trong hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có vai trò to lớn trong hệ thống chính trị.
Trải qua quá trình hình thành và phát triển vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị đã được Hiến pháp nước Cộng hoà 7 xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xác định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam ở nước ngoài”[14, tr. Vai trò và tầm quan trọng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đã được khẳng định trong thực tế. Thông qua nhiều hình thức tổ chức và vận động quần chúng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã góp phần cùng với Đảng, Nhà nước giải quyết những khó khăn, bức xúc, tạo điều kiện và môi trường thuận lợi để các tầng lớp nhân dân tham gia phát triển kinh tế - xã hội, khơi dậy và phát huy những giá trị đạo đức, văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc như sự tương thân, tương ái, tình dân tộc, nghĩa đồng bào. Phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VIII (26/9/2014), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh "Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đánh giá cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và rất vui mừng trước sự phát triển, lớn mạnh không ngừng của Mặt trận - hình ảnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, một nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam".1] Trong công cuộc đổi mới với nền dân chủ ngày càng phát triển, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày càng quan trọng đã làm tốt vai trò là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, cầu nối vững chắc giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước, tăng cường đoàn kết, hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có nhiệm vụ tiếp tục tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tập hợp ngày càng rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân.3 Chức năng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Trong thực tế lãnh đạo, do nhiều nguyên nhân khác nhau “Đảng chưa 8 đáp ứng được nhu cầu trong việc giải quyết nhiều vấn đề kinh tế-xã hội, trong phong cách lãnh đạo và cả trong rèn luyện phẩm chất cán bộ đảng viên” [19, tr. Để tăng cường sức mạnh của Đảng cần khắc phục những hạn chế, khiếm khuyết trong tổ chức và hoạt động của Đảng là yêu cầu cấp bách, khách quan trong tình hình hiện nay. Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “mỗi công việc của Đảng phải giữ nguyên tắc và phải liên hệ chặt chẽ với quần chúng” và “giữ chặt mối liên hệ với quần chúng, đó là nền tảng lực lượng của Đảng mà nhờ đó Đảng thắng lợi” [6, tr. Cho nên, Mặt trận Tổ quốc với tính cách là sự thể hiện của khối đại đoàn kết toàn dân có vai trò to lớn đối với việc phát huy sức mạnh của Đảng.
Với tư cách là cơ sở quần chúng của Đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thông qua hoạt động của mình đã góp phần phát huy sức mạnh bộ máy tổ chức Đảng, thể hiện ở các mặt sau: - Phối hợp thống nhất hành động của các tổ chức thành viên tuyên truyền các chủ trương, nghị quyết của Đảng về công tác xây dựng Đảng nói chung, xây dựng Đảng vững mạnh, nâng cao uy tín của Đảng trong đời sống chính trị xã hội. Vận động các tầng lớp nhân dân tích cực xây dựng và bảo vệ Đảng; giám sát mọi hoạt động của cấp uỷ Đảng tại địa phương để kịp thời phát hiện những sai sót, khiếm khuyết trong công tác lãnh đạo của địa phương. - Mặt trận Tổ quốc Việt Nam bằng thực tiễn hoạt động của mình, đã tăng cường mối liên hệ chặt chẽ giữa Nhân dân với Đảng. Vận động, tổ chức nhân dân thực hiện quyền làm chủ, tham gia xây dựng chính sách, pháp luật.
- Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội phát hiện những việc làm sai trái của các cơ quan Nhà nước như vi phạm các quyết định về quản lý, vi phạm về tự do, dân chủ của công dân để báo cáo với các cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết. 9 - Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội vận động, tổ chức Nhân dân thực hiện quyền làm chủ, tham gia xây dựng chính sách, pháp luật. - Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội vận động các tầng lớp Nhân dân tham gia các phong trào quần chúng cùng Nhà nước thực hiện các chương trình phát triển kinh tế-xã hội nhanh, bền vững. Những vấn đề lý luận về giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 1.
Khái niệm giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Để có những nhận thức lý luận về giám sát của MTTQVN, trước hết cần hiểu “giám sát” là gì. Giám sát là thuật ngữ được dùng nhiều văn bản trong cơ quan Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, vẫn chưa có sự nhất quán trong cách quan niệm. Theo Từ điển Tiếng Việt: “Giám sát là theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều qui định không?”.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì: “giám sát là một hình thức hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội nhằm bảo đảm pháp chế hoặc sự chấp hành những quy định chung nào đó”. Từ điển Luật học định nghĩa: “giám sát được hiểu là sự theo dõi, quan sát hoạt động thường xuyên, liên tục và sẳn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát đi đúng quỹ đạo, quy chế nhằm đạt được mục đích, hiệu quả xác định từ trước, bảo đảm cho pháp luật được tuân thủ nghiêm chỉnh” [32, tr. 389] Mặc dù có sự diễn đạt khác nhau, nhưng từ các định nghĩa này, có thể thấy được những đặc trưng chung nhất của giám sát: - Là hoạt động phản ánh mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng trong một hệ thống – cấu trúc xã hội xác định. - Mục đích là nhằm phòng ngừa và uốn nắn những sai phạm có thể xảy ra trong quá trình triển khai thực hiện và bảo đảm cho hệ thống vận hành đạt hiệu quả cao.
10 Trong hệ thống xã hội, hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay, giám sát được thực hiện bởi nhiều cấp độ chủ thể khác nhau: Giám sát của Đảng, giám sát của Nhà nước và giám sát của nhân dân, của xã hội. Theo Quy định số 30-QĐi/TW:“Giám sát là sự theo dõi, kiểm tra, phát hiện, đánh giá của cá nhân, tổ chức, cộng đồng người này đối với cá nhân, tổ chức, cộng đồng người khác trong các lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội; trong việc thực hiện chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, Hiến pháp, pháp luật, chính sách của Nhà nước, các quyền, nghĩa vụ công dân, của các tổ chức chính trị - xã hội và những kiến nghị phát huy ưu điểm, thành tựu, xử lý đối với các cá nhân, tổ chức có những hành vi sai trái” [23, tr. Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm về giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam như sau: “Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là việc Mặt trận các cấp theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử, công chức, viên chức trong việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm kịp thời phát hiện và kiến nghị xử lý những sai sót, khuyết điểm nhằm phát huy quyền làm chủ của Nhân dân góp phần kiểm soát quyền lực của Nhà nước, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước”. Đặc điểm giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Theo khoản 2, điều 25, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 quy định: “- Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mang tính xã hội; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, kịp thời phát hiện và kiến nghị xử lý sai phạm, khuyết điểm; kiến nghị sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật; phát hiện, phổ biến những nhân tố mới, các điển hình tiên tiến và những mặt tích cực; phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, góp phần xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh.9] 11 Hoạt động giám sát được thực hiện bằng hai loại chủ thể.
Đó là hoạt động giám sát của cơ quan Nhà nước và hoạt động giám sát của các chủ thể xã hội (ngoài nhà nước). Hoạt động giám sát của các chủ thể ngoài nhà nước gọi là giám sát xã hội.