CHƯƠNG 1. NHỮNG DIEU KIEN VA TIEN DE HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG TRIET HOC CUA TRAN ĐỨC THẢO 1.Điều kiện kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến sự hình thành tư tưởng triết học Trần Đức Thảo 1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội Châu Au Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản trên toàn thế giới, từ đó kéo theo nền sản xuất hàng hóa được mở rộng với quy mô toàn cầu. Vào năm 1929 đã xuất hiện cuộc khủng hoảng kinh tế, nó bắt đầu từ nước Mỹ (nước tư bản phát triển nhất đầu thế kỷ XX) sau đó lan sang Châu Âu và sau là toàn thế giới. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 - 1933) bắt nguồn từ nền sản xuất tư bản chủ nghĩa với sự chạy đua sản xuất hàng loạt hàng hóa số lượng lớn, mong đạt lợi nhuận không lồ, dẫn đến thị trường không tiêu thụ hết và điều này làm cho mat cân bang về cung câu, kéo theo là lạm phát, kinh tế đi xuống tram trọng.
Hậu qua là kinh tế các nước Châu Âu bị tan phá nặng nề, công nhân thất nghiệp, các cơ sở sản xuất phải đóng cửa, đời sống xã hội giảm sút. Cuộc khủng hoảng kinh tế (1929 - 1933) khiến kinh tế thé giới bi ton thương, hàng loạt nhà máy, doanh nghiệp, cửa hàng đóng cửa, nông dân mất ruộng đất, nhiều người lang thang và nghèo đói. Trong khi đó các nhà tư bản lựa chọn giải pháp thà đồ hàng, tiêu hủy chứ không bán giá rẻ nhăm hạn chế lạm phát. Đây được xem là cuộc khủng hoảng sản xuất thừa, trái ngược với cuộc khủng hoảng (1919 - 1924) là cuộc khủng hoảng thiếu.
Khủng hoảng kinh tế làm cho tình hình các nước tư bản căng thắng về tài nguyên, đất đai và thị trường của nhau, đó cũng là một trong những nguyên nhân sâu xa của chiến tranh thế giới (1939 - 1945). 17 Cuộc khủng hoảng kinh tế (1929 - 1933) làm cho những mâu thuẫn giữa các nước tư bản lớn đã gay gắt càng thêm gay gắt hơn. Các yếu tố nhà nước, dân tộc, giáo hội của Châu Âu trở nên đồ ky nhau, tạo thành những mâu thuẫn không thê điều hòa. Những lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị và xung đột tôn giáo - văn hóa nói chung đã đây Châu Âu vào sự khủng bố của chủ nghĩa phát - xít, sau đó là toàn nhân loại vào cuộc chiến tranh thế giới thứ hai (1939 - 1945) đau thương và mat mát nhất trong lịch sử loài người.
Cuộc chiến tranh đã làm cho con người mất hết niềm tin vào thực tại, đời song tinh thần của xã hội Châu Âu bị khủng hoảng một cách tram trong. Một bộ phan các nha triét hoc, khoa hoc Chau Au bi khung bố hoặc trở thành những mắt xích trong bộ máy phát - xít. Trong khi một bộ phận khác đặt niềm tin vào những lý tưởng cao đẹp của chủ nghĩa Mác - Lénin. Nó đã trở thành cứu cánh niềm tin với người dân Châu Âu, đặc biệt là các nước Đông Âu, với niềm hy vọng Hồng quân Liên - Xô sẽ chiến thắng chủ nghĩa phát - xít.
Sự vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin của Liên Xô ảnh hưởng đến toàn thế giới và tư tưởng của toàn thời đại. Vì vậy trong giai đoạn này, chủ nghĩa Mác - Lênin đã phát triển một cách rực rỡ, với chủ trương giải phóng con người, giải phóng các dân tộc bị áp bức, bóc lột. Sau khi chiến tranh thé giới thứ hai kết thúc, Châu Âu bị tan phá nặng nề. Phần lớn các nước Tây Âu bị tàn phá, nhiều nhà máy, bến cảng, thành phó, trung tâm công nghiệp thiệt hại, hàng triệu người chết mắt tích và bị tàn phế.
Ở Pháp năm 1945 sản xuất công nghiệp chỉ bằng 38%, nông nghiệp 50% so với năm 1938; ở Italia 1/3 tài sản quốc gia bị tổn thất, v. Tuy nhiên dưới sự viện trợ của Mỹ trong khuôn khô “kế hoạch Mácsan”, đến khoảng những năm 1950 kinh tế ở các nước tư bản Tây Âu đã cơ bản được phục hồi so với trước chiên tranh. Các nhà nước tư sản Tay Au tiêp tục củng cô chính quyên 18 của gial cấp tư sản, 6n định kinh tế - xã hội, hàn gan vết thương chiến tranh, liên kết chặt chẽ với Mỹ và tìm cách quay trở lại các thuộc địa cũ của mình. Trong khi đó sau chiến tranh thế giới thứ hai, dưới sự giải phóng của Hồng quân Liên Xô, một loạt nhà nước dân chủ nhân dân ra đời như Cộng hòa nhân dân Bungari, Cộng hòa nhân dân Anbani, Cộng hòa nhân dan Nam Tu, Cộng hòa dân chủ Đức.
Các nước Đông Âu dưới sự viện trợ của Liên Xô cũng đã phục hồi và tái xây dựng lại đất nước, hình thành hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyên chính vô sản, viện trợ, ủng hộ các phong trảo giải phóng dân tộc trên toàn thế giới. Các nước ở Châu Âu đã chia làm hai hình thái nhà nước, xuất hiện những mâu thuẫn trong chính sách đối nội, đối ngoại, trở thành đối trọng của nhau. Sau khi được viện trợ và nỗ lực hàn gan vết thương chiến tranh, nhờ sự phục hồi kinh tế nhanh chóng, đời sống xã hội Châu Âu được cải thiện, các trào lưu tư tưởng cũng theo đó được nảy nở. Các nhà tư tưởng Châu Âu kết thành các bè phái, phê phán lẫn nhau [56, tr.
Trong lúc đó chủ nghĩa Mác - Lênin được xem là tư tưởng của thời đại, được nhiều nhà tư tưởng đánh giá là không thé vượt qua do những ảnh hưởng sâu rộng của nó. Chủ nghĩa Mác - Lénin trở thành trung tâm cho các nhà tu sản chỉ trích, phê phán, xuyên tac, phần vì muốn cổ vũ hệ tư tưởng dân chủ tư sản, phần khác muốn vượt qua hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lénin, chống lại sự mở rộng và ảnh hưởng của nó đến đời sống. Trong tình hình mới, Trần Đức Thảo được xem là một trong những nhà Hiện tượng học nổi tiếng thế hệ thứ hai sau Husserl, những phân tích, đánh giá của ông về Hiện tượng học được giới học thuật Pháp đánh giá cao. Tuy vậy tầm ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin quá lớn, trở thành điểm sáng của lịch sử tư tưởng thé giới, vì vậy rất nhiều nhà tư tưởng, chính trị đã nghiên cứu, tiếp thu nó và Trần Đức Thảo cũng không ngoại lệ.
Ông đã 19 đã tích cực nghiên cứu, giảng dạy, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lénin trước các tư tưởng tư sản thịnh hành như chủ nghĩa Hiện sinh, Hiện tượng học,. Chính vì có xu hướng ủng hộ và bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, Trần Đức Thảo đã phải hoạt động dưới những ánh mắt hoài nghỉ va xa lánh của giới học thuật tư sản Pháp. Ông đã phải làm thêm nhiều nghề dé có tiền học tập, nghiên cứu triết học và phải bỏ kỳ thi tiến sĩ nhà nước ở Pháp vì không nhận được sự đồng thuận, khi biện hộ cho chủ nghĩa Mac - Lénin trong bai thi cua minh. Đến năm 1951, bang nhiều cô gắng bài thi của ông được phát hành có tên Tiếng Việt là “Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vat biện chứng” tại nhà xuất ban Minh Tân, Paris, nước Pháp [56, tr.Điều kiện về kinh tế - xã hội Việt Nam Trong những bối cảnh lịch sử cụ thé, con người tham gia vào các quan hệ sản xuất và tạo nên ý chí độc lập của họ.
Các quan hệ sản xuất cho thay trình độ của lực lượng san xuất hiện thời và cấu trúc kinh tế của xã hội, là cơ sở hiện thực trên đó hình thành các cấu trúc thượng tầng pháp luật, chính trị và các hình thái ý thức xã hội. Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tạo thành phương thức sản xuất chi phối đời sống xã hội, chính trị và tư tưởng nói chung. Từ đó có thể khẳng định tồn tại xã hội không chỉ tác động đến ý thức xã hội, mà còn ảnh hưởng lớn đến những tư tưởng của các cá nhân, vì vậy bối cảnh trong nước với tư cách là tồn tại xã hội ít nhiều cũng tác động rất đáng kê đến Trần Đức Thảo. Ông là một nhà triết học phương Tây lớn thế kỷ XX, mặc dù có được những điều kiện phát triển tốt hơn so với phần còn lại của xã hội, nhưng sự trưởng thành từ thơ ấu thì gắn chặt với đời sống xã hội ở Việt Nam, với văn hóa Việt Nam.
Trực quan VỀ Sự nghèo khó của dân tộc, xiéng xich cua thực dan và khát vọng tự do, độc lập của nhân dân Việt Nam là điều không khó tìm thay ở Trần Đức Thảo. Trong bài viết “Vé Đông Dương” của Tran 20 Đức Thảo được soạn ở xà lim nhà tù lúc ông bị bắt từ (9/1945 - 12/1945), ông nên án mạnh mẽ sự hà khắc và tàn bạo của thực dân Pháp. Trần Đức Thảo cho rằng thực dân Pháp phải chịu trách nhiệm cho những hành vi bóc lột, khủng bó, tình trạng mù chữ và nền kinh tế lạc hậu ở Việt Nam. Tại một bai phỏng vẫn của phóng viên Pháp khi được hỏi rằng, người Việt sẽ đón tiếp quân viễn chinh Pháp đồ bộ như thế nào? Ông đã trả lời: “N6 súng” và đến khoảng thang 9/1945, ông bị chính quyền Pháp bắt giam 3 tháng với lý do đe dọa an ninh nước Pháp.
Qua những tư liệu sử học và các bải viết của Trần Đức Thảo khi học tập và hoạt động ở Pháp, thì điều kiện kinh tế - xã hội trong nước giai đoạn này gặp muôn vàn khó khăn. Về kinh tế, tàn dư phong kiến, chính sách vơ vét tài nguyên của Pháp, phương thức canh tác nông nghiệp lạc hậu, cùng với sự cướp bóc của phát - xít Nhật đã làm cho nền kinh tế Việt Nam kiệt quệ, hậu quả là nạn đói cuối năm (1944 - 1945) cướp đi sinh mạng của hàng triệu người. Bên cạnh đó lũ lụt làm vỡ đê 9 tỉnh Bắc Bộ, hạn hán kéo dài, làm cho phần lớn diện tích đất không thể canh tác, tiền giả tràn lan, hệ thống ngân hàng trống rỗng, đời sống nhân dân ban cùng hóa. Trên tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, nhân dân ra sức tăng gia, sản xuất, nêu cao khâu hiệu “nhường cơm sẻ áo”, tình hình kinh tế trong nước dần dần được cải thiện, nạn đói được day lùi.
Tuy rất khó khăn về kinh tế, nhưng ở Việt Nam phong trào chống chủ nghĩa phát - xít, chống chủ nghĩa đế quốc lại diễn ra mạnh mẽ với hy vọng giành được độc lập tự do cho dân tộc, thành quả là ngày (2/9/1945) nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời.