CHƯƠNG 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HOÁ 1. CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HOÁ Tư tưởng về văn hóa của Hồ Chí Minh được hình thành trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các giá trị truyền thống của dân tộc, tinh hoa văn hoa của nhân loại; là kết quả của sự tổng hợp các giá trị văn hóa Đông - Tây. Trong đó, chủ nghĩa Mác - Lênin được xem là nguồn gốc lý luận quan trọng nhất, là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng về văn hóa nói riêng. Giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Nhà văn hoá Hồ Chí Minh trước hết là sản phẩm của dân tộc Việt Nam, đất nước Việt Nam, là tượng trưng cao đẹp của tâm hồn Việt Nam, tính cách Việt Nam, truyền thống và bản s c văn hoá Việt Nam.
Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã sớm có nhận định thật mới mẻ và sâu s c về Hồ Chí Minh: “Hồ Chí Minh là người Việt Nam, Việt Nam hơn bất cứ người Việt Nam nào hết”.425] Trong hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã tạo dựng cho mình một nền văn hoá phong phú và ền vững với những giá trị truyền thống hết sức đặc s c và cao quý. Trong các giá trị cao đẹp của dân tộc Việt Nam, trước hết phải kể đến chủ nghĩa yêu nước, ý chí bất khuất để đấu tranh dựng nước và giữ nước. Chủ nghĩa yêu nước là dòng chảy xuyên suốt trường kỳ lịch sử Việt Nam, là giá trị truyền thống cao đẹp nhất, thiêng liêng nhất và là cội nguồn của trí tuệ sáng tạo và lòng dũng cảm của người Việt Nam. Chính sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước đã thúc giục Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước để từ đó Luan van 11 hình thành những quan điểm cơ ản của Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam, trong đó có quan điểm về văn hoá.
Thứ hai, dân tộc Việt Nam cũng là một dân tộc giàu lòng nhân nghĩa, có truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái. Người Việt luôn sống trong tình làng nghĩa xóm, yêu thương đùm ọc nhau. Dù trải qua những khó khăn, thử thách nhưng truyền thống này vẫn luôn bền vững và không ngừng được phát huy. Hồ Chí Minh rất chú ý kế thừa, phát huy truyền thống tốt đẹp này của dân tộc ta.
Người nhấn mạnh bốn chữ “đồng”: đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh. Sau này, Hồ Chí Minh được đánh giá là nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam là điều mà bản thân Hồ Chí Minh trước đây không ao giờ nghĩ tới. Bởi những giá trị văn hóa (tranh iếm họa, thơ, truyện ng n, kịch .) mà Hồ Chí Minh sáng tạo không nằm ngoài mục đích là đoàn kết toàn dân để giải phóng dân tộc, đem lại ấm no, tự do, hạnh phúc cho con người. Đó chính là văn hóa nhân văn mang tên Hồ Chí Minh.
Thứ ba, Việt Nam là một dân tộc cần cù, dũng cảm, thông minh, sáng tạo trong sản xuất và chiến đấu và cũng là một dân tộc ham học hỏi, một dân tộc không ngừng làm giàu nền văn hóa của dân tộc mình bằng cách tiếp thu tinh hoa văn hoa của nhân loại. Trên cơ sở giữ vững bản s c văn hoá dân tộc, nhân dân ta đã iết học hỏi, chọn lọc, tiếp biến những cái đẹp, cái tốt của người khác, của dân tộc khác thành cái riêng của mình. Chính bản thân Hồ Chí Minh là minh chứng sống cho truyền thống cao đẹp này. Người luôn c n cù học hỏi, c n cù lao động ở mọi lúc, mọi nơi với tinh th n c u tiến bộ.
Có lẽ vì thế, Người tiếp thu được những gì tinh túy nhất trong các giá trị truyền thống tốt đẹp dân tộc ta, trong các tinh hoa văn hóa nhân loại. Ở con người Hồ Chí Minh, c n cù luôn g n liền với sự thông minh, mưu trí. Người xứng đáng là tấm gương điển hình về tinh th n c n cù, dũng cảm, thông minh, sáng tạo trong sản xuất và chiến đấu, ham học hỏi và c u tiến bộ. Luan van 12 Như vậy, một trong những cơ sở hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá nói riêng là những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta.
Hồ Chí Minh xứng đáng là hiện thân cao đẹp nhất của truyền thống văn hoá Việt Nam. Tinh hoa văn hóa của nhân loại Sinh ra và lớn lên trong một gia đình khoa ảng, Hồ Chí Minh sớm tiếp thu nền văn hoá Quốc học và Hán học. Khi đi học và đặc biệt là khi ra nước ngoài, Hồ Chí Minh không ngừng làm giàu trí tuệ mình bằng tinh hoa văn hoá nhân loại. Vă oá p ơ ô Với vị trí địa lý thuận lợi, nền văn hoá Việt Nam đã sớm có sự tiếp xúc với hai nền văn hoá lớn ở phương Đông là Trung Hoa và Ấn Độ.
Hồ Chí Minh là tiêu biểu cho tinh hoa văn hoá Việt Nam và đồng thời Người cũng là tiêu biểu của tinh hoa văn hoá phương Đông. Tinh hoa văn hóa phương Đông có ảnh hưởng sâu s c đến văn hoá Việt Nam chủ yếu là hệ tư tưởng của tam giáo Nho, Lão, Phật. Nho giáo vào Việt Nam cùng sự xâm lược của nhà Tây Hán từ thế kỷ II trước Công nguyên. Nhưng từ thế kỷ XV trở đi, Nho giáo mới chiếm được địa vị cao trong Tam giáo và để lại những dấu ấn sâu s c trong văn hoá Việt Nam.
Hồ Chí Minh xuất thân trong một gia đình Nho giáo nên sớm nghiền ngẫm kinh điển Nho gia. Trong quá trình đến với di sản truyền thống này, Người đã biết khai thác và lựa ra những yếu tố tích cực, phù hợp để phục vụ cho nhiệm vụ cách mạng. Người từng nói: “Tuy Khổng tử là phong kiến và trong học thuyết của Khổng Tử có nhiều điều không đúng, song những điều hay trong đó thì chúng ta nên học”. Luan van 13 Trong các bài nói, bài viết của Người chúng ta hay b t gặp những thuật ngữ, khái niệm của Nho giáo như “thế giới đại đồng”, “dân vi quý.
” hay cần, kiệm, liêm, chính. Tuy sử dụng thuật ngữ cũ của Nho giáo nhưng Hồ Chí Minh đã ổ sung, sửa đổi đem lại cho nó ý nghĩa mới, mang ý nghĩa cách mạng. Chẳng hạn như phạm trù “trung”, “hiếu”, đã từ lâu quen thuộc với nhân dân nhưng Hồ Chí Minh nói: đạo đức cũ và đạo đức mới khác nhau nhiều; không phải chỉ có hiếu với bố mẹ mà hiếu với nhân dân, phải thương dân, tin dân, học dân, hỏi dân. Trung với nước phải g n liền hiếu với dân.
Bên cạnh có thái độ tôn trọng, tiếp thu những hạt nhân hợp lý của Nho giáo, Người còn triệt để phê phán những quan điểm sai l m, phản tiến bộ như tư tưởng đẳng cấp, coi khinh phụ nữ, khinh lao động chân tay của Nho giáo. Nếu như các nhà Nho xưa coi khinh lao động chân tay, chỉ coi trọng nghề đọc sách thì Hồ Chí Minh cho rằng: “Để sữa chữa sai lầm cổ truyền ấy, chế độ xã hội chủ nghĩa đã nêu rõ khẩu hiệu: phải kết hợp chặt chẽ lao động trí óc với lao động chân tay. Là một nhà cách mạng chân chính, Hồ Chí Minh luôn thấy được nét tích cực trong mỗi tư tưởng. Người luôn nh c nhở: “những người An Nam chúng ta hãy tự hoàn thiện mình, về mặt tinh thần bằng cách đọc các tác phẩm tinh thần của Khổng Tử, và về mặt cách mạng thì cần đọc các tác phẩm của Lênin” [20, tr.
Thứ đến là Hồ Chí Minh tiếp thu triết lý “theo tự nhiên” của Lão Tử. Học thuyết của Lão Tử được tóm t t trong hai chữ “vô vi”. Theo Lão Tử, “vô vi” không phải là không làm gì mà làm theo cái “vô”, tức là cái Đạo có “sẵn” trong tự nhiên hay hành động theo quy luật của tự nhiên. Hồ Chí Minh được xem là một nhà triết học hành động nhưng người cũng là một trí thức của phương Đông.
Học giả Trung Quốc Lâm Ngữ Đường từng nói: trong mỗi người trí thức phương Đông đều có một ông Khổng và Luan van 14 một ông Lão – khi còn trẻ người ta thường hăng hái, hành xử theo triết lý nhập thế của Khổng Tử nhưng cuối đời thường rơi vào tư tưởng xuất thế của Lão Trang [28]. Hồ Chí Minh có l n đã dẫn “Đạo đức kinh” của Lão Tử: “Dạ bất bế hộ, lộ bất thập di” (đêm không c n đóng cửa, ngoài đường không ai nhặt của rơi) [27]. Năm 1946, khi trả lời các nhà áo nước ngoài, Người nói: Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào uỷ thác thì tôi gắng sức làm.
Bao giờ, đồng bào cho tôi lui, thì tôi rất vui lòng lui. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì đến vòng danh lợi [21, tr. Ở đây, chúng ta thấy Hồ Chí Minh mang dáng dấp của một ông Khổng khi Người đang được “đồng bào ủy thác” và một ông Lão khi “đồng bào cho lui”. Trong Đạo Đức Kinh, Lão Tử viết: “Ta có ba cái quý: cái thứ nhất là nhân từ, cái thứ hai là tiết kiệm, cái thứ ba là không dám xem mình đứng trước thiên hạ.
Vì nhân từ nên có thể dũng cảm. Vì tiết kiệm cho nên có thể rộng rãi. Vì không dám xem mình trước thiên hạ cho nên có thể đứng đầu mọi vật. Hồ Chí Minh suốt đời rèn luyện, thực hiện a đức tính ấy.
Người luôn đề cao chữ “nhân”, coi trọng các giá trị, các chuẩn mực đạo đức; nêu cao và thực hiện chữ “kiệm” và luôn “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Tổng thống Chi Lê, X. Agienđê khi được hỏi: ba đức tính của những nhà chính trị mà Ngài muốn có và với ai người sẽ lấy làm gương? Tổng thống X. Agienđê trả lời: tính liêm khiết, lòng nhân đạo và đức khiêm tốn tuyệt vời của Hồ Chí Minh [28].
Luan van 15 Tuy là một nhà sử học Pháp nhưng nhà sử học G.