phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu làm 2 chương 6 tiết. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 VĂN HÓA ỨNG XỬ VÀ VĂN HÓA ỨNG XỬ HỒ CHÍ MINH 1. Một số vấn đề lý luận chung về văn hóa ứng xử 1. Khái niệm văn hóa ứng xử 1.
Khái niệm văn hóa Văn hóa theo tiếng Latinh là “cultus” nghĩa là sự trồng trọt. Danh từ “cultus” được hiểu theo hai nghĩa khác nhau “cultusagri” là trồng trọt ngoài đồng (trồng cây) và “cultusannimi” là trồng tinh thần, trồng người. Như vậy theo nghĩa gốc của từ “văn hóa” thì đó là làm cho sự vật, hiện tượng sinh sôi, nảy nở, phát triển theo chiều hướng tốt đẹp. Theo tiếng Hán “văn” là những cái tốt đẹp của cuộc sống đã được đúc kết, “hóa” là đem cái đã được đúc kết ấy hóa thân trở lại cuộc sống, làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn.
Theo cách hiểu khác văn hóa là lấy cái đẹp để giáo hóa con người. Thực chất, văn hóa là một lĩnh vực rộng bao gồm nhiều yếu tố liên quan đến hoạt động của con người, chính vì vậy có rất nhiều cách hiểu và cách diễn đạt khác nhau về văn hóa. Nhiều ngành khoa học đều lấy văn hóa làm đối tượng nghiên cứu, mỗi nhà khoa học lại tiếp cận văn hóa trong một hoàn cảnh lịch sử và ở những góc độ khác nhau. Trong luận văn này, tác giả chú ý tới một số khái niệm văn hóa sau: Năm 1871, Edward Burnett Tylor – một nhà dân tộc học, nhân chủng học người Anh trong tác phẩm “Primitive culture” (Văn hóa nguyên thủy) đưa ra định nghĩa đầu tiên về văn hóa: “Văn hóa… là phức thể bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán cùng những khái niệm và thói quen khác mà con người thu nhận được với tư cách là một thành viên trong xã hội” [57, tr.
13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Boas cho rằng: Văn hóa là tổng thể các phản ứng tinh thần, thể chất và những hoạt động định hình nên hành vi của cá nhân cấu thành nên một nhóm người vừa có tính tập thể vừa có tính cá nhân trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên của họ, với những nhóm người khác, với những thành viên trong nhóm và của chính các thành viên này với nhau. Đây được xem là những quan niệm đầu tiên về văn hóa trên thế giới. Tylor cho rằng văn hóa bao gồm tất cả những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người, từ tri thức, tín ngưỡng đến nghệ thuật, đạo đức, pháp luật… quan niệm này đã nêu lên được rất nhiều lĩnh vực của văn hóa, tuy nhiên nó mới chỉ dừng lại ở việc liệt kê mọi lĩnh vực sáng tạo của con người; còn F.
Boas mới chỉ quan tâm tới những yếu tố góp phần quan trọng trong việc hình thành văn hóa của con người đó là mối quan hệ giữa cá nhân, tập thể và môi trường. Như vậy, cả hai quan niệm này chưa khái quát được đầy đủ bản chất của khái niệm văn hóa. Có quan niệm lại xem văn hóa như cơ sở định hướng cho thế ứng xử tốt đẹp của cá nhân và cộng đồng dân tộc: “Văn hóa là sự hiểu biết … nhưng chỉ riêng sự hiểu biết không thôi chưa làm nên văn hóa. Sự hiểu biết chỉ trở thành văn hóa khi nó làm nền và định hướng cho thế ứng xử (thể hiện ở tâm hồn, đạo lý, lối sống, hành vi…) của mỗi cộng đồng dân tộc và các thành viên trong đó hướng tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp đối với bản thân và trong quan hệ đối với người, đối với sự vật và hiện tượng của môi trường xã hội và môi trường tự nhiên xung quanh” [48, tr.
Trong những quan niệm về văn hóa nêu trên, mỗi quan niệm nhìn nhận bản chất văn hóa ở một góc độ riêng, nhưng đều coi văn hóa là sản phẩm hoạt động của con người thông qua quá trình tương tác giữa con người với tự nhiên và với xã hội. Những sản phẩm đó luôn hướng con người tới chân, thiện, mỹ; gắn bó chặt chẽ cuộc sống của con người. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com UNESCO đã đưa ra một định nghĩa chính thức về văn hóa: “Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và các cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ, cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống ,mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình” [trích theo 70, tr. Trong “Mục đọc sách” của tập Nhật ký trong tù (1943), Hồ Chí Minh đã sớm nêu lên một định nghĩa khá sâu sắc về văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [35, tr. Như vậy, theo quan niệm của Hồ Chí Minh con người sáng tạo ra văn hóa là vì cuộc sống của mình; và chính sự sinh tồn trên trái đất cũng đòi hỏi con người sáng tạo ra văn hóa. Điều đó chứng minh con người có khả năng cải tạo thế giới chứ không chỉ dừng lại ở việc khám phá thế giới như quan niệm của một số nhà triết học trước Mác.
Cả hai khái niệm văn hóa của UNESCO và Hồ Chí Minh đều xem xét văn hóa như một hiện tượng xã hội bao trùm mọi mặt cuộc sống con người, do con người và vì con người. Nói cách khác, cả hai khái niệm này đều thể hiện bản chất của văn hóa đó là chủ nghĩa nhân văn. Từ việc hệ thống hóa sơ bộ những cách tiếp cận khác nhau về văn hóa, có thể suy rộng ra: Văn hóa là một hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần do 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội. Nó là: “Những tri thức khoa học văn hóa, sự hiểu biết, trình độ học vấn, trình độ tiếp thu và vận dụng những kiến thức khoa học.
Hệ thống kiến thức được con người sáng tạo và tiếp thu, tích lũy, bổ sung và luôn luôn đổi mới qua các thế hệ thông qua lao động, sản xuất, đấu tranh giữa con người với tự nhiên và xã hội. Qua đó con người tiếp xúc, giao tiếp với nhau, hình thành nên những tập tục, những cách đối nhân xử thế nhất định. Sự hiểu biết được sử dụng làm nền tảng và định hướng cho nếp sống, nếp suy nghĩ, đạo lý, tâm hồn và hoạt động của mỗi dân tộc đạt tới chân, thiện, mỹ trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với môi trường xã hội và tự nhiên” [53, tr. Những giá trị đó được các thế hệ thừa nhận một cách tự nguyện, vận dụng vào cuộc sống hàng ngày và được trao truyền từ đời này sang đời khác để tạo nên những đặc trưng và bản sắc của từng dân tộc.
Văn hóa là một phạm trù lịch sử, nó được biến đổi theo thời gian và không gian, mang theo dấu ấn của thời đại và quốc gia, dân tộc. Cốt lõi của văn hóa đó là "giá trị”. Giá trị ở đây không phải là giá trị kinh tế học hay giá trị trong toán học. Nhà triết học cổ điển Đức E.
Kant (1724 – 1804) quan niệm về giá trị như sau: “Vật nào có thể đem trao đổi được đều có một giá trị, duy có một số vật không thể thay thế thì có một giá trị. Thí dụ: chiếc đồng hồ có một giá trị, còn tình bạn, tình yêu, lòng yêu nước… là những cái vô giá. Đó là những giá trị xã hội học” [trích theo 72, tr. Còn giá trị của văn hóa là giá trị xã hội.
Giá trị xã hội được thực thi thông qua hoạt động văn hóa của con người. Giá trị xã hội là cốt lõi của văn hóa, văn hóa là sự phát triển bản chất người nên văn hóa có mặt trong bất cứ hoạt động nào của con người. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Khái niệm ứng xử Ứng xử là một từ ghép gồm hai từ “ứng” và “xử”.
Mà ứng và xử lại bao gồm nhiều nghĩa khác nhau: ứng phó, ứng đáp, ứng đối, ứng biến và xử sự, xử lý, xử trí, xử thế, hành xử… Từ lâu vấn đề ứng xử của con người là một phạm trù được nhiều nhà tâm lí học, xã hội học, sinh vật học quan tâm. Bởi con người muốn tồn tại, trước hết phải dựa vào bản chất tự nhiên nhờ sự tiến hóa của thế giới vật chất, vì thế nó cũng chịu sự chi phối của tự nhiên đồng thời tác động lại tự nhiên nhờ những phản ứng của cơ thể. Những phản ứng đáp lại đối với tự nhiên theo cách này hay cách khác có thể coi là ứng xử. - Dưới góc độ sinh học: Các nhà khoa học cho rằng: ứng xử là toàn thể phản ứng thích nghi có thể quan sát khách quan mà một cơ chế có một hệ thống thần kinh thực hiện để đáp trả lại những sự kích thích…Điều đáng chú ý là những phản ứng ấy, những ứng xử, xử lý để đáp ứng cơ chế kích thích, tác động “được diễn ra theo cách tương đối ổn định” thông qua ngôn ngữ, cử chỉ, điệu bộ, .của đối tượng bị tác động.
- Dưới góc độ xã hội học: Ứng xử được hiểu là “cách hành động (và nói) như thế nào đó của một vai trò này đối diện với một vai trò khác (tức một cặp vai trò như vợ/ chồng, cha/ con, cấp trên/ cấp dưới…). Và đó là những hành động hoặc gọi là phản ứng, theo một cách tương đối” [48, tr. - Dưới góc độ tâm lý học: Ứng xử được khai thác dưới khía cạnh những quan hệ giao tiếp. Điều đó lí giải vì sao vấn đề ứng xử đã được nhiều người sử dụng khái niệm kép: giao tiếp - ứng xử, trong các mối quan hệ xã hội giữa con người với tự nhiên, con người với xã hội và con người với chính mình.