Chương 1:Cơ sở lí luận và tri thức văn hoá trong trường ca “Mặt đường khát vọng”. Chương 2: Thực trạng dạy học đoạn trích “Đất nước” trong nhà trường phổ thông và đề xuất hướng tiếp cận. Chương 3: Tổ chức học sinh tiếp cận đoạn trích “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm theo hướng tiếp cận văn hoá. 8 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ TRI THỨC VĂN HOÁ TRONG TRƢỜNG CA “MẶT ĐƢỜNG KHÁT VỌNG” 1.
Vài nét về văn hoá 1. Khái niệm văn hoá Theo các nhà ngôn ngữ học, văn hoá (culture) - với tư cách là một danh từ độc lập - chỉ bắt đầu sử dụng vào cuối thế kỉ XVII đầu thế kỉ XVIII. Mặc dù trước đó, khoảng đầu thế kỉ XVII Francis Bacon đã nói về văn hoá với sự chuyển nghĩa từ “gieo trồng trên đất đai” sang nghĩa bóng “vun trồng cho trí óc”. Người đầu tiên có công đưa từ “culture” vào trong khoa học là S.
Pufendorf (1632- 1694) – nhà nghiên cứu pháp luật người Đức.Pufendorf sử dụng thuật ngữ này để chỉ toàn bộ những gì do con người tạo ra và các sản phẩm nhân tạo này khác với sản phẩm thiên nhiên. Ở Ý, nhà xã hội học, nhà triết học G.Vico (1668- 1744) quan niệm rằng nếu như cuộc đời con người có các thời kì phát triển khác nhau thì mỗi dân tộc cũng phát triển qua các thời đại không giống nhau về văn hoá. Ông coi văn hoá như một phức thể, trong đó bao gồm cả kinh tế, chính trị, khoa học và nghệ thuật. Cũng ở giai đoạn này, P.
Voltaire (1694- 1778) – nhà văn, nhà triết học, nhà sử học đã nhắc tới văn hoá khi bàn về sự phát triển của khoa học, nghệ thuật, đạo đức. Ông tán thành ý kiến cho rằng lịch sử thực sự của loài người là lịch sử xã hội, lịch sử văn hoá, chứ không phải lịch sử của các vương triều.Herder (1744- 1803)- nhà triết học khai sáng, nhà văn, nhà nghiên cứu văn học Đức- thì thuật ngữ văn hoá được sử dụng rộng rãi. Ông gọi văn hoá là quá trình hình thành con người, là sự nắm bắt và sử dụng kinh nghiệm, truyền thống, cho nên cần phải gắn văn hoá với việc giáo dục tính nhân văn và lối sống của dân tộc. 9 z Theo nhà nghiên cứu Phan Ngọc, người Trung Quốc đã dùng từ văn hoá để dịch từ “culture” theo nghĩa gốc là vẻ đẹp do màu sắc tạo ra.
Văn có nghĩa là hình thức đẹp đẽ trong lễ, nhạc, trong cách cai trị trong ngôn ngữ cũng như trong cách cư xử lịch sự. Còn “văn hoá” để dịch chữ culture là theo cái nghĩa “trình độ phát triển lịch sử của xã hội và con người biểu hiện trong các kiểu và các hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người, cũng như trong các giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra” [20, Tr. Nhưng trước đó rất lâu, từ thế kỉ I trước Công nguyên, ở Trung Quốc, Lưu Hướng (đời Hán đã quan niệm văn hoá là văn trị và giáo hoá hay “giáo hoá bằng văn”. Cho đến nay, chưa ai nói rõ khái niệm văn hoá được du nhập từ Trung Quốc vào Việt Nam từ bao giờ, có thể là cuối thế kỉ XIV, hay đầu thế kỉ XX? Chỉ biết rằng, trước cái thời điểm này từ rất lâu cha ông ta đã dùng khái niệm văn hiến và văn vật ( như “Nước Việt Nam nghìn năm văn hiến” hay “ Hà Nội - Thăng Long ngàn năm văn vật”).
Điều này khẳng định rằng, trước khi khái niệm văn hoá được du nhập vào, thì Việt Nam đã có một nền văn hoá từ lâu đời, cũng như đã có những khái niệm tương ứng để biểu thị văn hoá của mình. Năm 1938, định nghĩa về văn hoá của Đào Duy Anh được đưa ra trong cuốn “Việt Nam văn hoá sử cương” do Quan Hải tùng thư xuất bản tại Huế. Khi tác giả nói “Văn hoá tức là sinh hoạt” là ông đã chú trọng tới khía cạnh cấu trúc, đã coi văn hoá như một kiểu thức sinh tồn của xã hội do đó thấy được sự gắn bó của nó với các bộ phận, các thiết chế xã hội. Trong những năm gần đây ở Việt Nam vấn đề văn hoá và bản sắc văn hoá dân tộc nổi lên như một vấn đề thời sự, được bàn luận trên nhiều quy mô: chuyên luận, giáo trình, báo chí.
với các công trình tiêu biểu như: Trần Ngọc Thêm “Cơ sở văn hoá Việt Nam” (1995); Trần Quốc Vượng (Chủ biên) “Cơ sở văn hoá Việt Nam”; Phan Ngọc “Một cách tiếp cận văn hoá”; Nguyễn San và Phan Đăng “Giáo trình văn hoá Việt Nam” (2000); Đặng Đức Siêu “Giáo 10 z trình cơ sở văn hoá Việt Nam” (2009); “Bàn về văn hoá ứng xử của người Việt Nam” (Nguyễn Tất Thịnh, 2006); “Người Việt phẩm chất và thói hư tật xấu” (Nhiều tác giả, 2008). Các công trình nghiên cứu nhìn chung đã xem xét văn hoá trên nhiều phương diện: trong các công trình vật thể hay trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày thể hiện qua các lễ hội, phong tục tập quán, ngôn ngữ. Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu về văn hoá nhưng đến ngày nay văn hoá vẫn là một đối tượng chưa được thống nhất. Vì vậy vẫn tồn tại nhiều quan niệm, định nghĩa khác nhau về văn hoá.
Trong cuốn “Xã hội học Văn hoá” của Đoàn Văn Chúc, Viện văn hoá và NXB Văn hoá – Thông tin, 1997, các tác giả định nghĩa: “Văn hoá – vô sở bất tại: Văn hoá – Không nơi nào không có. Điều này cho thấy tất cả những sáng tạo của con người trên nền của thế giới tự nhiên là văn hoá, nơi nào có con người nơi đó có văn hoá”. Theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hoá Việt Nam - Bộ Giáo dục và đào tạo, do Nguyễn Như Ý chủ biên, NXB văn hoá Thông tin, xuất bản 1998 thì: “Văn hoá là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử”. Trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, do NXB Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học, 2004 đưa ra một loạt quan niệm về văn hoá: - Văn hoá là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử.
- Văn hoá là tri thức, kiến thức khoa học (nói khái quát). - Văn hoá là những hoạt động của con người nhằm thoả mãn nhu cầu đời sống tinh thần (nói tổng quát). - Văn hoá là trình độ trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh. 11 z - Văn hoá là một cụm từ để chỉ một nền văn hoá của một thời kì lịch sử cổ xưa, được xác định trên cơ sở một tổng thể những di vật có những đặc điểm giống nhau,ví dụ: Văn hoá Hoà Bình, văn hoá Đông Sơn.
Từ những năm 70, 80 của thế kỉ XX Unesco đã có nhiều cuộc họp bàn về văn hoá dưới sự chủ trì của Liên hợp quốc, qua đó có nhiều định nghĩa văn hoá được đề xuất, có những định nghĩa được thừa nhận một cách rộng rãi, được coi như là sự thể hiện quan niệm văn hoá của thế giới: “Văn hoá bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động” [49, Tr. “Văn hoá là năng lực và thành quả sáng tạo mà nhân loại đã đạt được trong quá trình hoạt động thực tiễn trong xã hội. Văn hoá hiểu theo nghĩa rộng bao quát năng lực sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần của nhân loại cùng toàn bộ sản phẩm vật chất và tinh thần được làm ra. Văn hoá hiểu theo nghĩa hẹp là năng lực sản xuất tinh thần và sản phẩm tinh thần.
Văn hoá là hiện tượng lịch sử cụ thể. Trong các giai đoạn lịch sử khác nhau của xã hội.văn hoá có những đặc điểm khác nhau. Các dân tộc khác nhau đẫ cấp cho văn hoá những đặc điểm dân tộc khác nhau. 17] Văn hoá được Hồ Chí Minh định nghĩa rất dễ hiểu: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó chính là văn hoá. Văn hoá là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”. Theo Trần Quốc Vượng: “Văn hoá là một quan hệ. Nó là quan hệ giữa thế giới biểu tượng và thế giới thực tại.
Quan hệ ấy biểu hiện một kiểu lựa 12 z chọn riêng của một dân tộc người, một cá nhân so với một tộc người khác. Nét khu biệt các kiểu lựa chọn làm cho chúng ta khác nhau, tạo thành những nền văn hoá khác nhau là do độ khúc xạ. Tất cả mọi cái mà một tộc người tiếp thu hay sáng tạo đều có một tộc người khác. Trần Ngọc Thêm trong cuốn “Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam” cho rằng: “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên, xã hội của mình” [54, Tr.
Đặc trưng văn hoá Có nhiều cách hiểu khác nhau về văn hoá nhưng ở bất cứ thời điểm nào văn hoá luôn tồn tại những đặc trưng cơ bản sau: Văn hoá do con người tạo ra, con người tác động trực tiếp vào thế giới tự nhiên để tạo ra những giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể. Những giá trị văn hoá đó luôn mang dấu ấn của con người qua mọi thời đại. Nó biểu hiện cho tài năng, tâm tư, tình cảm, thế giới tâm hồn phong phú của con người. nó trở thành sợi dây vô hình gắn kết con người trong mọi thời đại.
Văn hoá có tính giá trị, là thước đo độ nhân bản của xã hội loài người. Tính giá trị phân theo mục đích có: giá trị vật chất và giá trị tinh thần. Giá trị vật chất là của cải vật chất phục vụ nhu cầu sinh tồn của con người. Giá trị tinh thần là những gì phục vụ cho thế giới tinh thần của con người.
Tính giá trị phân theo ý nghĩa có: giá trị sử dụng, giá trị đạo đức, giá trị thẩm mĩ. Tính giá trị phân theo thời gian: giá trị vật chất và giá trị vĩnh cửu.