Chương I trong Quyết định 380/QĐ-TTg ngày 10/4/2008 của Thủ tướng Chính phủ như sau: - Việc chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng trực tiếp do người được chi trả và người phải chi trả thực hiện trên cơ sở hợp đồng thỏa thuận theo nguyên tắc thị trường. - Mức tiền chi trả sử dụng dịch vụ môi trường rừng gián tiếp do Nhà nước quy định, được công bố công khai và điều chỉnh khi cần thiết. - Các tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ môi trường rừng phải chi trả tiền sử dụng dịch vụ cho người được chi trả dịch vụ môi trường rừng và không thay thế cho thuế tài nguyên nước hoặc các khoản phải nộp khác theo quy định của pháp luật. - Đối với tổ chức kinh doanh, tiền chi trả cho việc sử dụng dịch vụ môi trường rừng được tính vào giá thành sản phẩm của bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng.
Nguyên tắc người được hưởng lợi phải trả tiền Trong các mô hình quản lý môi trường cũng như các giải pháp quản lý môi trường trước đây, chúng ta thường hay sử dụng nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền (polluter pays). Cơ chế này yêu cầu những người gây ra các tác động có hại đến môi trường phải có trách nhiệm chi trả và cải tạo lại môi trường. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, cơ chế này cũng có một số hạn chế nhất định vì người gây ô nhiễm thường không muốn trả tiền hoặc không khắc phục các thiệt hại về môi trường [Lê Thị Kim Oanh, 2010]. Khác với các cơ chế quản lý trước đây, PES không hoạt động theo cơ chế người gây ô nhiễm phải trả tiền, mà hướng tới một cơ chế khác là người được hưởng lợi từ dịch vụ môi trường sẽ trả tiền cho việc thụ hưởng đó.
Các nhà kinh tế đã tiến hành nhiều nghiên cứu và chỉ ra rằng, sẽ hiệu quả hơn nếu trả tiền để giữ gìn môi trường thay vì bắt họ phải chi trả cho những thiệt hại môi trường mà họ đã gây ra [Trần thu Thủy, 2009]. Một ví dụ cụ thể là, thay vì phạt những người dân ở vùng thượng lưu vì đã chặt phá rừng gây ra lũ lụt cho vùng hạ lưu thì chi trả cho họ một khoản tiền để họ giữ các khu rừng đó và đem lại lợi ích cho dân ở vùng hạ lưu. Những người ở vùng hạ lưu trước đây không phải trả tiền cho bất cứ lợi ích nào họ nhận được từ môi trường rừng, thì nay họ sẽ chi trả một phần cho các lợi ích mà họ được hưởng. Đây là một cách tiếp cận rất mới của PES, coi dịch vụ môi trường là hàng hóa và nếu nhận được lợi ích từ hàng hóa thì hiển nhiên phải trả tiền để được sử dụng.
Dựa trên cách tiếp cận này, các giá trị của dịch vụ môi trường, đặc biệt là dịch vụ môi trường rừng sẽ được đánh giá một cách chính xác hơn. Các hình thức chi trả dịch vụ môi trường rừng Có hai hình thức thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng: - Chi trả dịch vụ môi trường rừng trực tiếp: là việc người sử dụng dịch vụ môi trường rừng (người phải chi trả) trả tiền trực tiếp cho người cung ứng dịch vụ môi trường (người được chi trả). 15 z - Chi trả dịch vụ môi trường rừng gián tiếp: là việc người sử dụng dịch vụ môi trường rừng chi trả gián tiếp cho người cung ứng dịch vụ môi trường rừng thông qua một số tổ chức và thực hiện theo quy định tại Điều 6, Chương I, Quyết định 380/QĐ-TTg ngày 10/4/2008 của Thủ tướng Chính phủ. Sự sẵn lòng chi trả Sự sẵn lòng chi trả (willingness to pay) là thước đo độ thỏa mãn, đồng thời là thước đo lợi ích và là đường cầu thị trường, tạo nên cơ sở xác định lợi ích đối với xã hội từ việc tiêu thụ hoặc bán một mặt hàng cụ thể.
Nền tảng của PES chính là việc những người cung cấp dịch vụ môi trường sẽ nhận được một khoản tiền cho việc họ chấp nhận bảo vệ môi trường (tính điều kiện) và mức chi trả này phụ thuộc vào sự thỏa thuận với bên nhận được lợi ích từ các lợi ích từ môi trường. Mặc dù nhiều nhà nghiên cứu chỉ ra các đặc điểm khác của PES, ví dụ, PES là một cơ chế giao dịch tự nguyện giữa ít nhất một người cung cấp và một người sử dụng đối với các hàng hóa dịch vụ môi trường, thì tính điều kiện vẫn là đặc điểm rõ nhất, phân biệt PES với các cách tiếp cận trước đây [Phạm Văn Lợi, 2011]. Nhà kinh tế học Ronald Coase cũng đưa ra quan điểm rằng, cơ sở của PES là dựa trên sự thỏa thuận lợi ích giữa hai bên thông qua việc mặc cả để đưa ra một mức giá hợp lý. Thông qua việc thỏa thuận, hai bên có thể đạt được mức lợi ích mà mình mong muốn đối với các dịch vụ môi trường.
Mô hình dưới đây cho thấy các ảnh hưởng lợi ích lẫn nhau của hai bên (Hình 1. Mức chi trả này đã được đề cập đến khá nhiều trong các nghiên cứu về PES. Một cách khác để hiểu về mức sẵn lòng chi trả được đưa ra trong một nghiên cứu của Pagiola [2003]. Trong mô hình này, có thể thấy: nguồn thu nhập từ việc chặt phá rừng và sử dụng các cánh rừng đầu nguồn là lợi ích của những người chủ rừng, nhưng lại là chi phí của những nhà máy thủy điện và cư dân ở vùng hạ lưu.
Phần màu xanh nhạt biểu diễn cho phần lợi ích của người chủ rừng như khai thác gỗ, buôn bán động vật hoang dã… Ngược lại, phần diện tích màu đỏ cho thấy chi phí hay thiệt hại của các nhà máy thủy điện khi rừng bị chặt phá, ví dụ như các thiệt hại 16 z về kinh tế do giảm năng suất hay thiên tai, lũ lụt. Do đó, các nhà máy này sẽ sẵn sàng bỏ ra một số tiền để trả cho người chủ rừng, nhằm duy trì các khu rừng đầu nguồn và lợi ích của họ và mức tiền này phải nhỏ hơn phần thiệt hại về kinh tế, nhưng không làm giảm bớt lợi ích của người chủ rừng. Phần chi trả ở đây được thể hiện bằng màu xanh lá cây. Ví dụ, khi các khu rừng đầu nguồn bị chặt phá, chủ rừng thu nhập được 100 triệu đồng, đồng thời các nhà máy thủy điện bị thiệt hại 1 tỷ đồng.
Nếu rừng được bảo vệ, các nhà máy này sẽ giảm được thiệt hại là 500 triệu đồng, thì họ sẵn sàng chi trả một mức tiền nhỏ hơn 500 triệu đồng để duy trì rừng đầu nguồn. Lúc này, mức chi trả hợp lý sẽ lớn hơn 100 triệu đồng và nhỏ hơn 500 triệu đồng. Mô hình xác định mức chi trả dịch vụ môi trường Tóm lại, mức chi trả sẽ được xác định dựa trên cơ sở: Thu nhập của chủ rừng < Mức chi trả dịch vụ môi trường rừng < Mức lợi ích nhà máy thủy điện nhận được từ dịch vụ môi trường rừng. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 1.
Trên thế giới Trên thế giới cũng đã dần xuất hiện những báo cáo về đánh giá hiệu quả và tác động của PES đến sinh kế của cộng đồng dân cư tại các điểm thực hiện PES và đã bước 17 z đầu có những nhận định sâu hơn, như nhận định ban đầu của Landell-Mills và Porras (2002) cho rằng, “PES là một phương thức tiếp cận có khả năng làm giảm sự suy thoái môi trường và giảm nghèo tại vùng nông thôn” [Landell-Mills and Porras, 2002]. Các nhận định này sau đó hai năm đã được các tác giả khác phân tích và đánh giả cụ thể hơn và chỉ đồng tình một vế về nâng cao hiệu quả của công tác quản lý tài nguyên thiên nhiên, chứ không thực sự là một cơ chế để giảm nghèo. [Pagiola và nnk. Sau đó ba năm, một nghiên cứu không phân tích đến khía cạnh tăng giảm về tài nguyên, mà chỉ phân tích đến khía cạnh giảm nghèo, cho rằng việc thực hiện PES không luôn mang lại kết quả về giảm nghèo, vì lý do những hộ nghèo có thể sẽ không có cơ hội tự nguyện tham gia chương trình PES, nếu số tiền chi trả PES không bù đắp được các chi phí cơ hội cho việc thay đổi sử dụng mảnh đất theo yêu cầu [Wunder et al.
Và một ý kiến khác đã bổ sung và nhấn mạnh, không chỉ người nghèo, mà cả những người cung cấp dịch vụ môi trường cũng có thể không tham gia được vào chương trình này, do quyền sở hữu đất không đảm bảo, hoặc khoảng đất rừng của họ quá nhỏ, hoặc thiếu tiếp cận tín dụng để đầu tư vào các hoạt động như trồng rừng [Grieg-Gran et al. Như vậy, qua các kết quả nghiên cứu trên cho thấy, chương trình PES đã thực sự tác động làm giảm khả năng suy thoái môi trường, nhưng chưa thực sự tác động đến sinh kế và làm giảm đói nghèo cho cộng đồng. Tại Việt Nam Từ năm 2004, Chính phủ Việt Nam đã bắt đầu xây dựng nền móng cho một chương trình quốc gia về chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES). Hai trong những văn bản quan trọng nhất là Quyết định 380/TTg ngày 10/4/2008 của Thủ tướng Chính phủ về Thí điểm PFES ở hai tỉnh Sơn La (đầu nguồn của hệ thống sông Đà) và tỉnh Lâm Đồng (đầu nguồn của hệ thống sông Đồng Nai), và Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ về Thực hiện PFES trên phạm vi cả nước.
Một số dự án chính đã và đang triển khai, bao gồm: (i) Tạo nguồn hỗ trợ cho hoạt động bảo vệ vùng đầu nguồn hồ Trị An; (ii) Thanh toán cho nước sông Đồng Nai (2 dự án trên do Quỹ Quốc tế Bảo vệ Động Thực vật Hoang dã đề xuất và tổ chức thực 18 z hiện); (iii) Chương trình bảo tồn đa dạng sinh học khu vực châu Á, đánh giá tiềm năng và xây dựng mô hình thí điểm PFES ở 3 tỉnh Lâm Đồng, Đồng Nai và Bình Phước, do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phối hợp với Winrock International tổ chức thực hiện từ năm 2006-2009; và (iv) Chương trình môi trường trọng điểm và sáng kiến hành lang bảo tồn đa dạng sinh học, do Ngân hàng Phát triển Châu Á tài trợ từ năm 2006-2010, do Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với 2 tỉnh Quảng Nam và Quảng Trị thực hiện. Dự án này hỗ trợ một số hoạt động đánh giá và tìm cơ hội thị trường cho PES ở tỉnh Quảng Nam và Quảng Trị [Huỳnh Thị Mai, 2008]. Sau một thời gian thực hiện, diện tích thí điểm được chi trả tại Lâm Đồng đang là con số rất khiêm tốn so với kế hoạch.