phần mở đầu, truyền thuyết có các kiểu mô-típ: Sự thụ thai kì lạ để sinh ra nhân vật; tƣớng lạ từ ngay lúc lọt lòng; những biểu hiện khác thƣờng, hơn đời ngay từ lúc còn trẻ; nhân vật xuất hiện giữa thời thế đặc biệt; nhân vật xuất thân nghèo khổ hoặc ngƣợc lại. Phần kết gồm các kiểu mô-tip: Sự vinh phong, gia phong tên hiệu, mĩ tự của các triều đại sau; các chi tiết về nghi lễ thờ cúng; hóa thân của nhân vật; sự hiển linh, hiển Thánh của nhân vật. Riêng phần thứ hai, đoạn kể về cuộc đời và sự nghiệp của nhân vật, tập trung kể lại hành trạng, hành động của nhân vật và thƣờng không sử dụng các mô-típ. Mỗi câu chuyện, mỗi nhân vật có hành trạng, hành động riêng.
Tính hiện thực lịch sử, vì vậy, thƣờng đƣợc thể hiện đậm đặc nhất ở phần này. 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhƣ vậy, quan điểm trên của tác giả Kiều Thu Hoạch là cơ sở, giúp chúng ta nhận diện tác phẩm của thể loại truyền thuyết, phân biệt nó với thần thoại, cổ tích - những thể loại tự sự dân gian gần gũi với truyền thuyết nhất. Phân loại truyền thuyết Hiện nay, chúng ta thấy có nhiều ý kiến phân loại thể loại truyền thuyết. Sự phong phú về cách phân loại truyền thuyết là xuất phát từ những quan niệm và tiêu chí khác nhau.
Theo tác giả Lê Trƣờng Phát, căn cứ vào nội dung của thời kì lịch sử đƣợc truyền thuyết phản ánh, ghi chép, ý kiến của ông đồng nhất với ý kiến của nhà nghiên cứu Hoàng Tiến Tựu. Nếu căn cứ vào lịch sử và “phạm vi những sự kiện và nhân vật lịch sử đƣợc nhân dân quan tâm”, theo ông, những truyền thuyết về thời các vua Hùng; những truyền thuyết về sau thời các vua Hùng”[53,tr. Theo tác giả này, nhà nghiên cứu Đỗ Bình Trị chia truyền thuyết thành ba tiểu loại: truyền thuyết địa danh; truyền thuyết phổ hệ; truyền thuyết về nhân vật và sự kiện lịch sử[70,tr. Tác giả Lê Chí Quế phân loại truyền thuyết thành bốn loại: Truyền thuyết lịch sử; truyền thuyết anh hùng; truyền thuyết về các danh nhân văn hóa; truyền thuyết về các nhân vật tôn giáo[57,tr.
Tác giả Hoàng Tiến Tựu chia truyền thuyết thành bốn nhóm: Truyền thuyết về họ Hồng Bàng; truyền thuyết về thời kì Âu Lạc và Bắc thuộc; truyền thuyết về thời kì phong kiến tự chủ; truyền thuyết về thời kì Pháp thuộc[74,tr. Theo tác giả Trần Thị An trong luận án Tiến sỹ Đặc trƣng thể loại và việc văn bản hoá truyền thuyết dân gian Việt Nam (Viện Văn học, 2000), truyền thuyết được chia thành các loại: Truyền thuyết nguồn gốc giống nòi; truyền thuyết anh hùng; truyền thuyết tôn giáo; truyền thuyết tín ngưỡng; truyền thuyết địa danh. Qua sự phân loại của các tác giả, tôi sử dụng quan điểm của tác giả Kiều Thu Hoạch nhƣ sau: 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Truyền thuyết nhân vật (bao gồm: Truyền thuyết về các anh hùng chống xâm lƣợc; truyền thuyết về các anh hùng văn hóa; truyền thuyết về các anh hùng nông dân). Truyền thuyết địa danh, giải thích nguồn gốc tên gọi của các địa danh ở các địa phƣơng có gắn với các sự kiện lịch sử.
Truyền thuyết phong vật, kể về các phong tục, hội hè, trò diễn… có gắn với các nhân vật hoặc sự kiện lịch sử. Khái niệm lễ hội Thuật ngữ “lễ hội” mới chỉ đƣợc dùng phổ biến gần đây. Trƣớc kia chỉ dùng từ hội, hội hè. Khoảng vài chục năm qua, chữ “lễ” mới đƣợc sử dụng nhiều hơn, khi gọi là “hội lễ”, lúc ngƣợc lại gọi là “lễ hội”.
Lễ hội hay hội lễ, thuật ngữ này đều biểu hiện hai yếu tố lễ và hội, gắn bó chặt chẽ với nhau, hòa quyện vào nhau. Cụ thể nhƣ sau: Lễ: Lễ là một hệ thống các hành vi, động tác biểu hiện lòng tôn kính của dân làng đối với thần linh, lực lƣợng siêu nhiên, phản ánh nguyện vọng, ƣớc mơ của con ngƣời. Lễ trong lễ hội là hệ thống hành vi liên kết, có trật tự cùng hỗ trợ nhau, gồm (cúng bái, lễ rƣớc, tế, cầu khấn) nhƣ: Lễ rƣớc nƣớc - Lễ Mộc Dục - Tế gia quan - Rƣớc, đám rƣớc - Tế, đại tế - Lễ túc trực - Lễ hàn. Lễ không chỉ mang tính thiêng, còn biểu thị sự tôn kính của con ngƣời đối với những sức mạnh vô hình chƣa lý giải đƣợc nhƣng lại muốn chế ngự.
Hội: Là hoạt động vui chơi giải trí, đem lại một cảm giác thoải mái nhẹ nhàng, rũ bỏ tất cả những lo toan, phiền muộn. Con ngƣời đƣợc hòa nhập vào cuộc vui. Toàn bộ diễn trƣờng của lễ hội tạo thành một sân khấu lớn chứng kiến và tổ chức mọi trò vui, hứa hẹn mọi điều may mắn, con ngƣời vui hết mình trong tinh thần sảng khoái của tình cảm cộng đồng. Nếu nhƣ lễ là một hệ thống tĩnh có tính quy phạm, nghiêm ngặt đƣợc cử hành tại đình, đền, chùa, miếu, ngƣợc lại, hội là sinh hoạt dân dã phóng khoáng 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com diễn ra trên bãi, sân để dân làng cùng bình đẳng vui chơi với hàng loạt trò chơi hấp dẫn do mình chủ động tham gia.
Hội đƣợc tổ chức để đạt đƣợc lợi ích tinh thần của mọi thành viên cộng đồng. Tính cộng đồng còn khiến hội không ngăn cấm hay cự tuyệt công chúng từ các cộng đồng khác, từ nơi khác tới dự. Hội là vui chơi, giao tiếp giữa con ngƣời với con ngƣời, không bị ràng buộc bởi lễ nghi, tôn giáo, đẳng cấp, tuổi tác. Hầu hết, lễ hội đều có trò diễn, đám rƣớc, nhằm diễn lại sự tích của nhân thần, trở thành hình tƣợng nghệ thuật ăn sâu vào tâm trí mọi ngƣời.
Nhà nghiên cứu Phan Đăng Nhật trong Lễ hội cổ truyền, viết: “Lễ hội là pho sử khổng lồ, ở đó tích tụ vô số những lớp phong tục tín ngƣỡng, văn hóa nghệ thuật và cả sự kiện xã hội - lịch sử quan trọng của dân tộc”[78,tr. Trong bài viết Lễ hội: một cái nhìn tổng thể, tác giả Trần Quốc Vƣợng cho rằng: “Lễ hội là hoạt động định kỳ tổng hòa giữa lễ và hội gắn với những sự kiện trọng đại của cộng đồng nhƣ dạng thức có tính biểu trƣng để thể hiện ý nghĩa của đời sống cộng đồng”[82,tr. Trong Lễ hội Việt Nam trong sự phát triển du lịch, tác giả Dƣơng Văn Sáu cho rằng: “Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng diễn ra trên một địa bàn dân cƣ trong thời gian và không gian xác định; nhằm nhắc lại một sự kiện, nhân vật lịch sử hay huyền thoại, đồng thời là dịp thể hiện cách ứng xử văn hóa của con ngƣời với thiên nhiên, thần thánh và con ngƣời trong xã hội”[51,tr. Lễ hội đƣợc cấu thành bởi hai yếu tố: lễ (mặt tinh thần, tôn giáo, tín ngƣỡng, linh thiêng) và hội (mặt vật chất, văn hóa nghệ thuật, đời thƣờng).
Lễ và hội tuy là hai yếu tố nhƣng là hai mặt của một vấn đề. Sự tồn tại của hai yếu tố ấy trong lễ hội chính là sự thống nhất giữa các mặt của một vấn đề, để chúng - những lễ hội mới có thể tồn tại, phát triển đƣợc. Lễ và hội hòa quyện, xoắn xuýt với nhau, trong lễ có hội, trong hội có lễ, nhƣ Trần Quốc Vƣợng khẳng định: “Lễ hội gồm hai phần vừa tách rời, vừa không tách rời nhau: lễ và hội”[80,tr. 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhƣ vậy, dù cách diễn đạt khác nhau, nhƣng về cơ bản, các tác giả đều thống nhất nội dung cơ bản của khái niệm: Lễ hội là một hình thức sinh hoạt tổng hợp bao gồm các mặt vật chất và tinh thần, tôn giáo tín ngƣỡng và văn hóa nghệ thuật, linh thiêng và đời thƣờng.
là sinh hoạt có sức hút số lƣợng lớn những hiện tƣợng của đời sống xã hội. Lễ hội truyền thống giữ vai trò quan trọng trên tất cả các lĩnh vực, là sự kiện thể hiện truyền thống quí báu của cộng đồng, tôn vinh những hình tƣợng thiêng, gắn với địa danh là những vị thần, những ngƣời có thật trong lịch sử hay huyền thoại. Lễ hội là dịp con ngƣời đƣợc trở về với cội nguồn, nguồn cội tự nhiên hay nguồn cội của dân tộc đều có ý nghĩa thiêng liêng trong tâm trí mỗi ngƣời, là sinh hoạt văn hóa cộng đồng, đáp ứng nhu cầu sáng tạo, thƣởng thức, giao lƣu văn hóa và nhu cầu tín ngƣỡng trong sinh hoạt tinh thần của con ngƣời… Lễ hội góp phần củng cố mối liên hệ giữa các nhóm, khẳng định tinh thần cộng đồng, khẳng định trình độ văn hóa của một cộng đồng và giao lƣu văn hóa trên quy mô xã hội. Lễ hội có chức năng phản ánh đời sống xã hội trƣớc đây và hiện tại, dựa vào tính chất, quy mô tổ chức, tuyên truyền giáo dục ngƣời dân về nếp sống theo phong tục văn hóa truyền thống, đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần của nhân dân… Việc tổ chức lễ hội không chỉ là lòng biết ơn của con ngƣời đối với những ngƣời đi trƣớc, còn là lời răn dạy cho thế hệ sau.
Lễ hội giúp mỗi con ngƣời nhớ đến cội nguồn của mình, nhớ đến những thành quả lớn lao và những khó khăn của thế hệ trƣớc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ làng xã, họ tộc, tạo dựng nghề nghiệp. Lễ hội không chỉ đáp ứng nhu cầu tín ngƣỡng của nhân dân, còn đáp ứng các nhu cầu thƣởng thức văn hóa tinh thần của nhân dân. Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện nay có thể khái quát thành năm giá trị cơ bản: Giá trị cố kết cộng đồng dân tộc, giá trị giáo dục, giá trị tâm linh, giá trị bảo tồn nền văn hoá dân tộc, giá trị kinh tế. 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Khái niệm diễn xướng Diễn xƣớng là tổng thể các phƣơng thức nghệ thuật, cùng thể hiện đồng nhất giữa ca hát và hành động của con ngƣời. Đây là thuật ngữ đƣợc dùng khá quen thuộc trong nghiên cứu văn học nghệ thuật và đặc biệt trong văn học và văn hóa dân gian. Tuy nhiên, trong quá trình nhận diện, còn nhiều quan điểm, quan niệm xoay quanh vấn đề này. Theo tác giả Lê Trung Vũ: Diễn xƣớng vừa là hình thức sinh hoạt văn hóa xã hội định kỳ nhƣ (lễ thành niên, lễ thƣợng thọ…), quy mô gia đình hoặc việc làng xã.
Diễn xƣớng là lối trình diễn rất tự nhiên không định kỳ cũng không định lệ mà do nhu cầu sinh hoạt, trong lúc lao động, vì lao động, hoặc vì giải trí… diễn xƣớng dân gian là cái nôi của quan hệ dân tộc, có quan hệ mật thiết với hầu hết các bộ môn nghệ thuật.