mở đầu hoặc kết thúc mỗi truyền thuyết, chúng ta đều thấy thái độ khen chê, biểu dương, ca ngợi, hay phê phán, lên án,. của tác giả dân gian đối với các nhân vật lịch sử một cách khá minh bạch, rõ ràng. Nói cách khác truyền thuyết chính là cách thức mà dân gian trao tặng cho các vị thần. Các yếu tố kỳ ảo, sản phẩm của trí tưởng tượng dân gian là cách thức mà tri thức dân gian truyền tải những ước mơ và khát vọng của mình trong cuộc sống thực tại.
Về mặt văn học nghệ thuật: Truyền thuyết là nguồn cảm hứng cho các nhà văn nhà thơ cũng như các loại hình nghệ thuật dân gian thăng hoa, phát triển. Truyền thuyết là thể loại khái quát được lịch sử của dân tộc, đồng thời giáo dục con người hướng đến chân - thiện - mỹ. nên truyền thuyết là nguồn cảm hứng xuyên suốt cho các tác giả dân gian sáng tạo. Vì truyền thuyết là sáng tác của dân gian nên sự thực lịch sử đôi khi được hư cấu lại, theo tâm lý, tình cảm của dân gian.
Tính “lý tưởng hóa” được thể hiện qua nhiều tình tiết nhằm tôn vinh và linh thiêng hóa các nhân vật lịch sử. Một số vấn đề về tín ngƣỡng dân gian qua truyền thuyết thời Hùng Vƣơng 1. Mối quan hệ giữa tín ngưỡng dân gian và truyền thuyết Qua quá trình nghiên cứu về văn học dân gian đặc biệt là truyền thuyết, các nhà nghiên cứu có thể phân kỳ truyền thuyết dựa trên sự phân kỳ lịch sử xã hội cũng như những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của truyền thuyết. Muốn biết truyền thuyết của một thời kỳ nào cần phải biết thời điểm ra đời của tác phẩm cũng như những nhân vật, những sự kiện được phản ánh qua truyền thuyết đó.
Dựa trên các kết quả của các nhà nghiên cứu văn học dân gian, truyền thuyết Việt Nam gồm các thời kỳ: Truyền thuyết về Họ Hồng 19 Bàng và thời kỳ Văn Lang, truyền thuyết về thời kỳ Âu Lạc và Bắc Thuộc, truyền thuyết về thời kỳ phong kiến tự chủ, truyền thuyết về thời kỳ Pháp thuộc. Ba truyền thuyết thuộc đối tượng nghiên cứu của luận văn thuộc Truyền thuyết về Họ Hồng Bàng và thời kỳ Văn Lang. Họ Hồng Bàng mở đầu thời kỳ lập quốc của dân tộc ta kéo dài 2622 năm (2879 t.CN), từ Kinh Dương Vương đến Lạc Long Quân và các đời Hùng Vương. Theo Đại Việt sử ký toàn thư của sử thần Ngô Sĩ Liên, cho đến thời vua Hùng cương vực nước Văn Lang trải rộng, phía đông giáp Nam Hải, phía tây đến Ba Thục, phía bắc đến hồ Ðộng Ðình, phía nam giáp nước Hồ Tôn (nước Chiêm Thành).
Đây là hệ thống truyền thuyết mang tính chất sử thi, phản ánh không khí anh hùng ca thời Hùng Vương dựng nước và trình độ văn minh của người Văn Lang. Các nhân vật Vua Hùng, Sơn Tinh (Thánh Tản Viên), Thánh Gióng là những biểu tượng của quốc gia Văn Lang trong thời kỳ đang lớn mạnh. Hình tượng Lạc Long Quân - Âu Cơ có ý nghĩa khái quát hóa cho công cuộc chinh phục tự nhiên mở mang bờ cõi của người Văn Lang. Những truyền thuyết tiêu biểu trong chuỗi truyền thuyết về thời các vua Hùng: Con Rồng cháu Tiên, Thánh Gióng, Sơn Tinh - Thủy Tinh.
Nhân vật Hùng Vương không phải là nhân vật chính của từng truyện riêng nhưng lại là nhân vật nổi bật trong hệ thống truyện. Vua Hùng (Hùng Vương thứ sáu, Hùng Vương thứ mười tám, Hùng Vương nói chung) là người đứng đầu quốc gia, vị vua có uy tín với người dân tiếp cận với thần linh, là biểu trưng của sức mạnh và tinh thần của đất nước. Các yếu tố thần kỳ còn khá đậm đặc trong ba truyền thuyết này. Theo từng thời điểm xuất hiện của từng truyền thuyết các yếu tố mang tính siêu nhiên, kỳ ảo giảm xuống, tính chất trần thế ngày một tăng lên.
Lạc Long 20 Quân, Âu Cơ đều là con của các vị thần, cuộc hôn phối và sinh hạ của hai người cũng mang tính chất phi thường. Đến truyền thuyết Thánh Gióng, nhân vật Gióng vẫn mang những nét thần kỳ nhưng vẫn rất gần gũi với con người bình thường (có mẹ, sinh ra ở làng Phù Ðổng, ăn cơm, cà của dân làng). Mặt khác, từ truyền thuyết Lạc Long Quân đến truyền thuyết Thánh Gióng, đề tài cũng có sự chuyển biến: từ đề tài đấu tranh chinh phục thiên nhiên đến đề tài đấu tranh chống kẻ thù xâm lược. Có thể nói, với tín ngưỡng dân gian truyền thuyết vừa là nơi ẩn chứa, thẩm thấu, thể hiện các tín ngưỡng dân gian đó.
Những hình tượng, niềm tin sẽ chết cứng nếu như nó không được thổi vào đó linh hồn, tình cảm, ước mơ của dân gian. Tín ngưỡng chính là cơ sở, là khí trời, hơi thở của truyền thuyết. Mối quan hệ giữa truyền thuyết và tín ngưỡng dân gian là mối quan hệ song song cùng tồn tại, thẩm thấu qua nhau trong sinh hoạt cộng đồng người Việt Nam như một chỉnh thể không thể tách rời. Phải có tín ngưỡng với những phương thức thực hành như đền, miếu, tế, lễ, lễ hội.
mới làm sống lại, thể hiện rõ những điều truyền tụng trong truyền thuyết, ngược lại, truyền thuyết chính là nơi lưu giữ lâu dài, là lý lịch của tín ngưỡng, tạo nên xương cốt cho tín ngưỡng. Tuy nhiên giải mã tín ngưỡng hoặc giải mã các hiện tượng văn hóa nói chung trong truyền thuyết là một vấn đề đặc biệt thú vị và bổ ích đối với chúng ta. Tìm ra các yếu tố văn hóa tín ngưỡng ẩn chứa trong các truyền thuyết dân gian là một điều hết sức cần thiết, hơn nữa nó cũng thực sự là một hướng nghiên cứu có triển vọng và có đóng góp hữu hiệu khiến việc nghiên cứu truyền thuyết ngày càng tiếp cận chân lý. Khái quát chung về truyền thuyết thời Hùng Vƣơng Thời Hùng Vương được gắn với nhiều truyền thuyết được truyền miệng qua nhiều thế hệ.
Các truyền thuyết giải thích cho việc hình thành nhà nước 21 đầu tiên ở nước ta nói đến tổ tiên người Việt là các Vua Hùng đồng thời nói đến nhiều khía cạnh đời sống văn hóa và chính trị ở Việt Nam thời kỳ này. Đó là những truyền thuyết quen thuộc đối với mỗi người dân Việt Nam. Ba truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên, Thánh Gióng và Sơn Tinh - Thủy Tinh được giảng dạy trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn 6 vừa có giá trị văn học vừa có giá trị văn hóa lịch sử vô cùng to lớn góp phần không nhỏ vào việc giáo dục cũng như giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Truyền thuyết Con rồng cháu tiên lý giải về nguồn gốc, giống nòi của con người và dân tộc Việt Nam một cách đầy tự hào (Giống Rồng - Tiên).
Không chỉ vậy truyền thuyết còn có ý nghĩa to lớn trong việc khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần cố kết cộng đồng, là nguồn cội của tinh thần đoàn kết toàn dân tộc. Truyền thuyết Thánh Gióng miêu tả cuộc đấu tranh bảo vệ tổ quốc đầu tiên của dân tộc vào thời Hùng Vương thứ 6 (chống giặc Ân). Đây là tác phẩm lớn đầu tiên về đề tài giữ nước chống kẻ thù xâm lược. Hình tượng Thánh Gióng với những đặc điểm vừa siêu nhiên vừa trần thế là biểu tượng về lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta.
Truyền thuyết Sơn Tinh - Thủy Tinh nói về cuộc đấu tranh chống trọi với thiên nhiên của nhân dân ta mà tiêu biểu là nạn (thủy tai). Nó cho chúng ta thấy sức mạnh hủy diệt của thiên nhiên đồng thời nói lên ước mơ và sức mạnh chống chọi với tự nhiên của con người. Hình tượng Sơn Tinh thể hiện ước mơ và khát vọng chinh phục tự nhiên của cộng đồng dân tộc trong quá trình sinh tồn và phát triển. Thời Hùng Vương còn gắn với nhiều truyền thuyết khác như: Truyền thuyết Bánh chưng bánh giầy, truyền thuyết Mai An Tiêm.cho chúng ta thấy được bức tranh về kinh tế, văn hóa, chính trị, phong tục, tập quán của cha ông 22 ta thời kỳ đầu dựng nước.
Tập hợp những truyền thuyết đó có thể được xem như một bộ sử dân gian vừa đượm màu sắc huyền thoại, vừa chứa đựng những tinh chất lịch sử vừa thể hiện ước mơ và khát vọng của nhân dân về cuộc sống yên bình, ấm no, hạnh phúc. Từ lõi lịch sử của truyền thuyết về thời đại Hùng Vương đến tín ngưỡng dân gian truyền thống của dân tộc là một quá trình phát triển liên tục, gắn kết từ đời này sang đời khác. Gạt đi những sắc màu của huyền thoại, với những bằng chứng của khảo cổ học các nhà khoa học đã khẳng định: Việt Nam cũng như Đông Nam Á là một trong những cái nôi hình thành loài người. Cách đây nhiều vạn năm, trên đất Bắc Việt Nam đã có con người sinh sống.
Trên cơ sở những điều kiện thuận lợi về tự nhiên cho việc sinh sống và phát triển của con người, những người nguyên thủy trên lãnh thổ Việt Nam và Đông Nam Á đã sớm tạo nên những nền văn hóa như Sơn Vi, Hòa Bình, Bắc Sơn và từ đó, tìm đến vùng châu thổ các con sông lớn để tạo nên những nền văn hóa, văn minh cao hơn như Hoa Lộc, Phùng Nguyên và đặc biệt là nền văn minh Văn Lang - Âu Lạc. Đây là nền văn minh bản địa của người Việt, tồn tại sớm nhất trên đất Việt Nam. Nó cũng là cái gốc của nền văn minh Đại Việt sau này. Nền văn minh Văn Lang - Âu Lạc tồn tại tồn tại từ khoảng thế kỷ VIII - VII t.CN cho đến thế kỷ III s.CN tương ứng với hai quốc gia nối tiếp nhau tồn tại là Văn Lang gắn liền với 18 đời Vua Hùng và Âu Lạc.
Đại Việt sử lược, bộ sử khuyết danh xưa nhất cho đến ngày nay viết: “Đến đời Trang Vương nhà Chu (696 - 681 t.CN) ở bộ Gia Ninh có người lạ, dùng ảo thuật áp phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang, hiệu là nước Văn Lang. truyền được 18 đời đều gọi là Hùng Vương. Trong Đại Việt sử ký toàn thư, Ngô Sỹ Liên viết: “Lạc Long Quân phong con trưởng làm Hùng Vương. Hùng Vương lên ngôi đặt quốc hiệu là Văn 23 Lang” đóng đô ở Phong châu (Bạch Hạc, Phú Thọ), đời đời cha truyền con nối gọi là phụ đạo.
Vua các đời đều gọi là Hùng Vương cả”. Những sử liệu trên, mặc dầu chưa rõ nguồn gốc chân thực, chứng tỏ rằng vào khoảng thế kỷ VII - VI t.CN, trên đất bắc Việt Nam với trung tâm là vùng Phú Thọ đã hình thành một tổ chức chính trị - một nhà nước, đứng đầu là một vị vua, cha truyền con nối.