Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DI SẢN THỜ CÚNG 1. Tập quán thờ cúng và các tài sản dùng vào việc thờ cúng 1. Tập quán thờ cúng 1. Nguồn gốc và truyền thống thờ cúng Thờ cúng nói chung và thờ cúng tổ tiên nói riêng là một hiện tượng xã hội đã xuất hiện từ xa xưa và tồn tại ở nhiều nơi với nhiều cộng đồng người trên thế giới.
Ngày nay, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của nhiều tộc người, nhiều dân tộc trên thế giới. Ở nước ta hiện nay tồn tại một đời sống tâm linh dân gian rất đa dạng, nhưng tiêu biểu nhất vẫn là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Tín ngưỡng này trải dài qua các thời kỳ lịch sử, tồn tại ở nhiều cộng đồng, thành phần tộc người thậm chí tín ngưỡng ấy còn đan xen, thẩm thấu vào hầu hết các tôn giáo hiện có ở Việt Nam. Hiện nay vẫn chưa có cơ sở để khẳng định rằng tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên được hình thành ở trong nước hay được du nhập từ nước ngoài vào Việt Nam.
Vấn đề này hiện vẫn còn đang gây nhiều tranh cãi trong giới nghiên cứu khoa học xã hội. Hà Văn Tăng và Trương Thìn khi so sánh một số điểm tương đồng về mặt nghi thức thờ cúng tổ tiên của người Việt và người Hoa thì khẳng định rằng: “Thờ cúng tổ tiên có thể lúc đầu cử hành trong người Hán, rồi lan sang người Việt. Và đến một thời điểm nào đó thì trở thành phong tục phổ biến của người Việt” [21, tr. Trái ngược với quan điểm sự thờ cúng tổ tiên của người Việt về cơ bản bắt nguồn từ sự thờ cúng tổ tiên của người Hán, tác giả Nguyễn Đăng Duy cho rằng: “Việc thờ cúng tổ tiên của người Việt đã có cái gốc, cái nền nội sinh chứ không phải do từ Trung Quốc xâm nhập vào như nhiều sách báo từ trước tới nay đã khẳng định” [7, tr.
Dù thờ cúng tổ tiên là tín ngưỡng nội sinh hay ngoại sinh thì người viết cho rằng với hơn một nghìn năm Bắc thuộc, người Việt ít nhiều chịu ảnh hưởng của người Hán cũng là điều dễ hiểu. Có thể khẳng định rằng, trong xã hội Việt Nam xưa đã tồn tại những yếu tố thuận lợi cho sự hình thành tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nguồn gốc hình thành tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên bắt nguồn từ yếu tố kinh tế, xã hội: Ở thời kỳ đầu của xã hội nguyên thủy, nền kinh tế chủ yếu dựa vào săn bắt, hái lượm, vì vậy sự tồn tại của con người gần như lệ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên nên con người sùng bái tự nhiên (các nhiên thần): thần sông, thần núi, thần cây, thần nước, thần đá. Khi xã hội loài người chuyển từ nền kinh tế săn bắt hái lượm sang nền kinh tế trồng trọt, chăn nuôi thì con người không còn phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên như trước nữa đồng thời khẳng định vai trò của người phụ nữ trong xã hội công xã nguyên thủy – chế độ mẫu quyền, mẫu hệ.
Thời kỳ này, bên cạnh biểu tượng của các thần tự nhiên thì xuất hiện thêm biểu tượng về “vật tổ” (tôtem). Tôtem giáo phản ánh niềm tin vào mối quan hệ họ hàng thần bí giữa con người với một loài động vật, thực vật nào đó. Tuy nhiên, lòng tin vào tôtem vẫn chưa đủ để hình thành tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên nếu thiếu chế độ phụ quyền, phụ hệ. Sự ra đời của chế độ thị tộc phụ hệ là kết quả tất yếu của công cụ sản xuất phát triển kéo theo sự phân công lao động giữa trồng trọt, chăn nuôi và thủ công ngày càng rõ rệt.
Nhu cầu bảo vệ và mở rộng lãnh thổ do người đàn ông có sức mạnh cơ bắp hơn nữ giới đảm nhiệm, từ đó vị trí của người đàn ông trong chế độ thị tộc mẫu hệ được nâng lên gấp bội. Với sự biến đổi từ chế độ thị tộc mẫu hệ sang chế độ thị tộc phụ hệ thì trình độ sản xuất của xã hội ngày càng cao, của cải trong xã hội làm ra ngày càng nhiều đã xuất hiện nhu cầu thừa kế tài sản. Từ đó quyền thừa kế tài sản theo dòng họ cha đã củng cố vững chắc vị trí của người đàn ông trong xã hội. Bằng uy tín và sức mạnh của mình, những người đàn ông đã củng cố và thiêng liêng hóa sự thờ cúng tổ tiên đã từng manh nha trong thời kỳ thị tộc mẫu hệ.
Khi xã hội có giai cấp thì vị trí của người đàn ông trong gia đình và ngoài xã hội ngày càng được khẳng định, từ đó tạo điều kiện cho tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên phát triển mạnh. Trong xã hội Việt Nam, nền kinh tế tiểu nông theo kiểu tự cung tự cấp tồn tại lâu dài cũng là cơ sở cho sự hình thành và phát triển của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Mỗi gia đình là một cơ sở sản xuất độc lập và là nơi tiêu thụ chính những sản phẩm của họ làm ra. Chính vì vậy, tâm thế, tình cảm của người Việt thường hướng vào gia đình nhỏ của mình, từ đó việc thờ cúng tổ tiên ở cấp độ gia đình được chú ý, quan tâm hơn cả.
Có thể nói, tín ngưỡng thờ cúng nói 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chung và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt nói riêng được hình thành trực tiếp trên cơ sở phát triển kinh tế, xã hội. Khi địa vị, quyền lực của người đàn ông trong gia đình và xã hội vẫn được giữ vững thì tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên vẫn sẽ còn tồn tại trong cộng đồng, bởi trong chế độ thị tộc phụ quyền thì quyền hành của người đàn ông – trưởng nam trong gia đình làm phát sinh ở con cháu cảm giác sợ hãi và sự quy thuận một cách vô điều kiện. Cảm giác này được nuôi dưỡng và di truyền qua các thế hệ và thậm chí còn truyền sang cả thế giới bên kia với ý niệm rằng người chết vẫn có thể phù trợ hay trừng phạt được con cháu còn sống. Tổ tiên lúc này cũng giống như các vị thần, có thể trừng phạt hoặc phù giúp cho con cháu, vì thế con cháu phải biết lễ phép, kính trọng, thờ cúng tổ tiên thì mới được tổ tiên phù giúp, che chở, bảo vệ và không trừng phạt.
Một trong những căn cứ hình thành nên tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên không thể không nói đến đó là yếu tố tâm lý: Trình độ nhận thức, khả năng tư duy của con người chính là một trong những tiền đề quan trọng dẫn đến sự hình thành tín ngưỡng, tôn giáo nói chung và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên nói riêng. Có thể nói, để tín ngưỡng hình thành là khi trình độ nhận thức của nhân loại đã đạt đến mức độ tư duy trừu tượng, khái quát cao. Thật vậy, những phát hiện khảo cổ học, dân tộc học cho thấy cách đây 4 – 5 vạn năm, người tinh khôn (homosapiens) đã chôn người chết có đồ tùy táng kèm theo, điều này chứng tỏ người tinh khôn đã có khả năng tư duy trừu tượng, nhận thức được mối quan hệ của bản thân với thế giới xung quanh, về cái chết và bản thân sau khi chết. Ở Việt Nam cũng đã phát hiện được những ngôi mộ cổ có niên đại hơn 2000 năm với những đồ dùng sinh hoạt, trang sức.
chứng tỏ người Việt cổ đã sớm có ý niệm về một thế giới sau khi chết. Ngày nay, người Việt vẫn chôn theo thi hài người chết những đồ dùng, tư trang cá nhân như gương, lược, giầy dép, quần áo, đồ trang sức. với ý nghĩa là để cho linh hồn người chết sử dụng ở thế giới bên kia. Trong quan niệm của người Việt, thế giới sau khi chết mới thực sự là quê hương (sống gửi, thác về), điều này bộc lộ rõ nét nhất trong ngôn ngữ hàng ngày, người Việt không nói từ chết mà thay vào đó là từ quy tiên, về với tổ tiên, về nơi chín suối.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đặc tính trong phương thức xử sự của người Việt cũng là một trong những căn cứ hình thành nên phong tục thờ cúng tổ tiên: Người phương Đông nói chung và người Việt Nam nói riêng trong xử sự luôn duy tình, điều này khác hẳn so với phương thức xử sự của người Phương Tây là họ luôn duy lý, trong bất kỳ trường hợp nào họ cũng dùng lý chí để xử sự và giải quyết các vấn đề, điều này cũng có những lợi ích về mặt quản lý, kinh tế. Nhưng nếu xét về mặt tình cảm, mối quan hệ xã hội thì duy lý lại thường gây ra những hệ quả không mấy tốt lành, bởi nó coi mối quan hệ giữa con người với con người trong xã hội dựa trên cơ sở lợi ích vật chất, thực dụng. Còn cách xử sự duy tình của người Việt tuy có những bất lợi trong vấn đề quản lý, kinh tế nhưng trong mối quan hệ giữa người với người trong nội bộ gia đình nhỏ hay ngoài xã hội nó vẫn luôn thể hiện được tính nhân văn sâu sắc. Không phải cứ nói duy tình là không biết nhìn về tương lai, mà ngược lại, chính vì duy tình trong xử sự mà người Việt thể hiện được tầm nhìn cho thế hệ tương lai rất sâu sắc và thâm thúy.
Người Việt cổ ý thức được hành vi xử sự của mình có ảnh hưởng đến tương lai của con cháu sau này. Họ cho rằng nếu mình sống tốt, làm việc thiện thì ắt có nhân tốt vì thế mà có câu “ở hiền gặp lành”, còn nếu con người làm việc xấu thì sẽ bị trừng phạt “ác giả ác báo” là muốn nhắc nhở người đời như vậy. Hơn nữa, do chịu ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo với triết lý Nhân – Quả nên người Việt luôn tâm niệm để phúc cho đời sau. Người Việt cho rằng, dù cho con người có đi đâu chăng nữa, có làm gì đi nữa, ở gần hay xa nơi mình sinh ra thì họ vẫn luôn được dõi theo bởi ông bà tổ tiên của mình, với lối sống như vậy nên người Việt muôn đời luôn chăm chỉ, cần cù, chịu khó học hỏi, làm ăn dù ở bất kỳ nơi đâu.