Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DI SẢN DÙNG VÀO VIỆC THỜ CÚNG 1. Khái niệm di chúc, quyền của người lập di chúc 1. Khái niệm di chúc Di chúc là hành vi pháp lý đơn phương của cá nhân để định đoạt tài sản của mình khi còn sống cho người khác sau khi chết. Điều 646 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về Di chúc như sau: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”.
Di chúc là sự thể hiện ý chí của một người định đoạt tài sản của mình, toàn bộ hoặc một phần tài sản của người đó sẽ chuyển cho ai hoặc những ai sau khi người đó chết. Sự bày tỏ ý chí này được thể hiện, hoặc bằng giấy tờ để viết (hay chúc thư), hoặc bằng lời nói miệng mà thường là lời dặn dò, lời trăn trối khi hấp hối (di chúc miệng). Hành vi bày tỏ ý chí này bằng giấy tờ, hoặc lời nói miệng được gọi là lập di chúc. Từ định nghĩa nêu trên có thể rút ra một vài nhận xét về đặc điểm của di chúc trong luật thực định.
- Di chúc là hành vi pháp lý đơn phương. Tức là, chỉ có sự thể hiện ý chí của một bên là người lập di chúc, chứ không phải bởi sự “gặp gỡ” của hai hay nhiều ý chí tại một thời điểm như trong quan hệ hợp đồng. Nó là giao dịch pháp lý một bên, theo đó người có tài sản quyết định chuyển giao không có đền bù một phần hoặc toàn bộ tài sản của mình cho một hay nhiều người khác mà không cần biết đến ý chí của người thụ hưởng việc chuyển giao ấy. Ngay cả trong trường hợp di chúc do vợ chồng cùng lập, tính chất một bên của giao dịch vẫn không mất nếu di chúc được lập vì lợi ích của người thứ ba.
Về mặt lý thuyết, không loại trừ khả năng vợ và chồng, khi lập di chúc chung chỉ định lẫn nhau làm người hưởng di sản của người chết trước. Khi đó, di chúc 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trở thành một hợp đồng mà việc phát sinh hiệu lực của hợp đồng ấy bị hoãn lại cho đến thời điểm mở thừa kế của một trong hai bên giao kết, đây có thể xem là một trường hợp ngoại lệ. - Di chúc chỉ được thực hiện sau khi người lập di chúc chết. Cần hiểu rằng, cho đến khi người lập di chúc chết, người được thụ hưởng di sản theo di chúc không có bất cứ một quyền nào trên bất kỳ tài sản nào của người lập di chúc và họ cũng không chắc được hưởng di sản về sau này.
Di chúc chỉ ghi nhận cho họ một quyền nào đó trong di sản của người lập di chúc, tức là một quyền đối với các tài sản mà người sau này sẽ để lại (nếu có để lại). Người thừa kế theo di chúc không thể đòi hỏi sự bảo đảm quyền lợi gắn liền với tư cách đó và thậm chí, cả sự bảo đảm cho việc duy trì tư cách đó, vì di chúc có thể bị sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc hủy bỏ theo ý chí của người lập ra nó. - Di chúc có thể bị sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc hủy bỏ. Quyền này được chính thức thừa nhận trong điều 662 Bộ luật dân sự năm 2005.
Đó là hệ quả của một trong những đặc điểm cơ bản của di chúc: sự bày tỏ ý chí sau cùng của người có di sản. Trừ khi trút hơi thở cuối cùng, người có di sản có quyền sửa đổi những dự tính của mình, những quyết định của mình mà chưa có hiệu lực và chưa được công bố. Tuy nhiên, trong trường hợp vợ và chồng lập di chúc chung, việc sửa đổi, bổ sung, thay thế và hủy bỏ di chúc chỉ có thể được thực hiện với sự đồng ý của cả hai người. Nếu một người đã chết, thì người còn sống chỉ có thể sửa đổi, bổ sung di chúc có liên quan đến phần tài sản của mình và nhất là không thể thay thế hoặc hủy bỏ di chúc chung được nữa (theo điều 664 Bộ luật dân sự năm 2005).
Quy định trên có ý nghĩa pháp lý và thực tiễn như sau: - Người lập di chúc không bị ràng buộc bởi di chúc đã lập ra. Người đó có thể sửa đổi di chúc hoặc hủy bỏ di chúc đã lập bằng một di chúc khác lập ra sau này. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Không có sự ràng buộc giữa người lập di chúc và người được chỉ định là người thừa kế theo di chúc, trong thời gian người lập di chúc còn sống. - Sau khi người lập di chúc chết, người được chỉ định là người thừa kế theo di chúc đó sẽ bày tỏ ý chí của mình nhận hay không nhận tài sản của người lập di chúc để lại.
Đây là hành vi pháp lý đơn phương của người thừa kế nhận di sản theo di chúc. Người lập di chúc chỉ định một hoặc nhiều người trong di chúc và cho họ hưởng một phần hoặc toàn bộ tài sản của mình. Nếu trong di chúc có nhiều người, mỗi người được hưởng bao nhiêu phụ thuộc vào ý chí của người có tài sản. Người có tài sản thể hiện ý chí của mình (bằng việc lập di chúc) nhưng ý chí đó có được thực hiện hay không phụ thuộc vào hình thức biểu lộ ý chí.
Vì vậy, một người muốn định đoạt tài sản của mình bằng di chúc, cần phải tuân thủ các quy định của pháp luật về thừa kế theo di chúc. Căn cứ quy định của pháp luật về thừa kế thì di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng. Việc lập di chúc phải tuân theo trình tự, thủ tục luật định. Quyền của người lập di chúc Quyền của người lập di chúc được quy định tại Điều 648 và Điều 662 Bộ luật dân sự năm 2005, người lập di chúc có các quyền sau đây: 1.
Chỉ định người thừa kế, truất quyền hưởng di sản của người thừa kế; Người lập di chúc có quyền để lại di sản cho bất cứ cá nhân hoặc tổ chức nào. Người được nhận di sản có thể là cá nhân trong hay ngoài diện thừa kế theo quy định của pháp luật hoặc cũng có thể là Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội,. Quyền định đoạt của người lập di chúc còn được thể hiện thông qua việc họ có thể truất quyền hưởng di sản của người thừa kế theo pháp luật như: cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh, em ruột. mà không nhất thiết phải nêu lý do, tức là trong di chúc, người lập di chúc có thể chỉ định một hay nhiều người thừa kế theo pháp luật không được hưởng di sản thừa kế của mình.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phân định phần di sản cho từng người thừa kế; Quyết định người thừa kế theo di chúc được hưởng di sản như thế nào (một phần di sản là bao nhiêu, một số hiện vật nhất định hoặc một số tiền nhất định trong khối di sản,. Nếu chỉ định nhiều người thừa kế theo di chúc thì người lập di chúc cần phân định rõ mỗi người được hưởng một phần di sản trong khối di sản như thế nào? Người lập di chúc có quyền phân chia di sản cho mỗi người không nhất thiết phải ngang nhau mà không cần phải nêu lý do tại sao. Nếu người lập di chúc không phân định rõ phần quyền của mỗi người thừa kế, thì những người thừa kế được hưởng phần tài sản ngang nhau trong khối di sản thừa kế.
Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng; Dành một phần tài sản trong khối di sản để tặng cho người khác sau khi người lập ra di chúc chết. Tài sản tặng cho này gọi là vật di tặng. Người lập di chúc còn có thể dành một phần tài sản trong khối di sản để dùng vào việc thờ cúng (vấn đề này được đề cập ở phần sau). Giao nghĩa vụ cho người thừa kế trong phạm vi di sản; Người lập di chúc có quyền giao nghĩa vụ cụ thể cho người thừa kế (như giao cho người thừa kế phải trả một khoảng nợ của Nhà nước mà người để lại di sản chưa trả,.
Người lập di chúc có thể giao nghĩa vụ cho một người mà không cho họ hưởng di sản. Trường hợp này không bắt buộc người được giao nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đó. Nếu giao nghĩa vụ và cho hưởng di sản thì người được giao nghĩa vụ đó phải thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi di sản được thừa kế. Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản; Để đảm bảo di chúc không bị thất lạc, nhất là sau khi người lập di chúc chết, Bộ luật dân sự năm 2005 quy định người lập di chúc có quyền chỉ định trong di chúc người giữ di chúc đó.
Thông thường, sau khi người để lại di sản 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chết một thời gian, di sản mới được phân chia cho những người thừa kế. Để giữ gìn tài sản không bị hư hỏng, để đề phòng trường hợp tài sản có thể bị người khác tẩu tán, chiếm đoạt thì người lập di chúc có thể chỉ định trong di chúc người quản lý di sản sau khi người lập di chúc chết và cũng có thể chỉ định cả người phân chia di sản. Việc chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản là hoàn toàn theo ý chí tự nguyện của người lập di chúc. Người lập di chúc có thể cử một người vừa giữ di chúc, đồng thời vừa quản lý di sản và phân chia di sản.
Nhưng người lập di chúc vẫn có thể cử nhiều người, mỗi người làm một việc riêng (như cử ông A giữ di chúc, anh B quản lý tài sản, chị C phân chia di sản,. Người lập di chúc có quyền chỉ định người thừa kế, người được chỉ định có thực hiện hay không tùy thuộc ý chí chủ quan của họ. Đây không phải là nghĩa vụ pháp lý mà nó biểu hiện tinh thần tự nguyện, đoàn kết giúp đỡ người khác. Ngoài ra người lập di chúc còn có quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy di chúc.
- Sửa đổi di chúc: Là việc người lập di chúc thay thế một phần quyết định cũ của mình đối với các phần trong di chúc trước đó. - Bổ sung di chúc: Người lập di chúc có quyền “bổ sung” di chúc đã lập. Phần bổ sung là phần thêm vào nội dung của di chúc.