Khóa luận: Hợp đồng mua bán quyền đòi nợ theo luật Việt Nam - ĐH Luật HN

Khóa luận tốt nghiệp luật học về hợp đồng mua bán quyền đòi nợ theo pháp luật Việt Nam, phân tích lý luận, thực tiễn áp dụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện.

Chuyên ngành

Luật Dân sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

121
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan khóa luận tốt nghiệp về hợp đồng mua bán quyền đòi nợ

Hợp đồng mua bán quyền đòi nợ là chế định pháp lý quan trọng trong hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam. Nghiên cứu đề tài khóa luận tốt nghiệp luật học về hợp đồng mua bán quyền đòi nợ giúp làm sáng tỏ bản chất tài sản của quyền đòi nợ. Quyền đòi nợ phát sinh từ các giao dịch dân sự, hợp đồng kinh tế hoặc quan hệ tín dụng hợp pháp. Quyền tài sản này có thể trị giá được bằng tiền và được phép chuyển nhượng trên thị trường tài chính. Việc xác lập hợp đồng mua bán quyền đòi nợ tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho các chủ thể chuyển giao quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Giao dịch này giúp các doanh nghiệp tối ưu hóa dòng vốn lưu động. Doanh nghiệp nhanh chóng giải phóng các khoản nợ đọng khó đòi. Thị trường mua bán nợ phát triển góp phần làm lành mạnh hóa hệ thống tài chính quốc gia. Cơ sở pháp lý chủ yếu điều chỉnh quan hệ này gồm Bộ luật Dân sự và các luật chuyên ngành liên quan. Hợp đồng mua bán quyền đòi nợ là công cụ tái cấu trúc tài chính hữu hiệu.

1.1. Bản chất pháp lý của quyền đòi nợ trong pháp luật dân sự

Quyền đòi nợ là quyền yêu cầu người có nghĩa vụ phải thực hiện một hành vi dân sự nhất định. Hành vi đó thường là trả tiền, chuyển giao tài sản hoặc thực hiện một công việc cụ thể. Pháp luật Việt Nam ghi nhận quyền đòi nợ là quyền tài sản vô hình có giá trị kinh tế. Quyền này gắn liền với nghĩa vụ của bên thứ ba trong quan hệ hợp đồng ban đầu. Tính chất chuyển dịch của quyền đòi nợ cho phép chủ nợ chuyển nhượng quyền này cho chủ thể khác. Giao dịch chuyển giao không làm thay đổi bản chất của nghĩa vụ ban đầu. Người có quyền mới kế thừa đầy đủ tư cách pháp lý của bên bán nợ.

1.2. Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng mua bán quyền đòi nợ

Hợp đồng mua bán quyền đòi nợ là sự thỏa thuận chuyển giao quyền sở hữu tài sản vô hình. Bên bán có nghĩa vụ chuyển giao quyền yêu cầu thanh toán cho bên mua. Bên mua có nghĩa vụ trả tiền theo thỏa thuận trong hợp đồng. Đây là loại hợp đồng song vụ, có đền bù và có tính ưng thuận cao. Đối tượng của hợp đồng là quyền tài sản phát sinh từ giao dịch hợp pháp trước đó. Hợp đồng mua bán quyền đòi nợ đòi hỏi hình thức văn bản chặt chẽ. Hiệu lực pháp lý của hợp đồng tạo điều kiện xác lập quyền năng của chủ nợ mới đối với con nợ. Giao dịch đảm bảo tính minh bạch và an toàn pháp lý cho các bên.

II. Phân tích thực trạng pháp luật về hợp đồng mua bán quyền đòi nợ

Pháp luật Việt Nam hiện hành đã có những quy định nền tảng điều chỉnh hợp đồng mua bán quyền đòi nợ. Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về chuyển giao quyền yêu cầu và bán quyền tài sản. Tuy nhiên, các văn bản pháp luật hiện vẫn bộc lộ nhiều điểm chồng chéo và thiếu đồng bộ. Quy định về điều kiện chuyển giao quyền đòi nợ giữa tổ chức tín dụng và doanh nghiệp thông thường còn nhiều ranh giới mờ nhạt. Việc xác định giá trị thực tế của khoản nợ gặp khó khăn do thiếu thị trường định giá chuyên nghiệp. Trách nhiệm thông báo chuyển giao quyền đòi nợ cho bên có nghĩa vụ chưa có cơ chế kiểm soát nghiêm ngặt. Con nợ thường trốn tránh hoặc từ chối thực hiện nghĩa vụ với chủ nợ mới. Rủi ro pháp lý phát sinh khi quyền đòi nợ gắn liền với các biện pháp bảo đảm như thế chấp, bảo lãnh. Tranh chấp hợp đồng mua bán quyền đòi nợ gia tăng và thời gian giải quyết kéo dài. Những hạn chế này cản trở sự phát triển lành mạnh của thị trường mua bán nợ tại Việt Nam.

2.1. Quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên trong hợp đồng

Bên bán nợ có nghĩa vụ chuyển giao toàn bộ chứng từ chứng minh quyền đòi nợ hợp pháp. Bên bán phải bảo đảm tính có căn cứ của khoản nợ và thông báo bằng văn bản cho bên nợ. Nếu bên nợ không được thông báo hợp lệ, việc chuyển giao quyền đòi nợ không phát sinh hiệu lực đối kháng. Bên bán nợ chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu cung cấp thông tin sai sự thật. Về phía bên mua, quyền sở hữu khoản nợ được chuyển giao nguyên vẹn khi hợp đồng hoàn tất. Bên mua có quyền yêu cầu con nợ thanh toán đúng hạn và áp dụng các biện pháp thu hồi nợ hợp pháp. Quyền và nghĩa vụ của các bên cần được thỏa thuận minh bạch để phòng tránh tranh chấp.

2.2. Những bất cập và rủi ro pháp lý trong hoạt động mua bán nợ

Thực tiễn áp dụng pháp luật bộc lộ nhiều rủi ro đối với hợp đồng mua bán quyền đòi nợ. Thứ nhất, cơ chế bảo vệ bên mua nợ khi bên nợ mất khả năng thanh toán chưa đủ mạnh mẽ. Thứ hai, việc chuyển dịch tài sản bảo đảm gắn liền với quyền đòi nợ gặp vướng mắc về thủ tục đăng ký biến động. Các cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm áp dụng quy trình chưa thống nhất. Thứ ba, rủi ro vô hiệu hợp đồng do vi phạm điều kiện chủ thể tham gia kinh doanh mua bán nợ. Doanh nghiệp mua nợ có thể đối mặt với tổn thất tài chính nghiêm trọng. Sự thiếu minh bạch về thông tin tín dụng làm tăng nguy cơ phát sinh tranh chấp kéo dài tại tòa án.

III. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán quyền đòi nợ

Để phát triển thị trường mua bán nợ an toàn, việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về hợp đồng mua bán quyền đòi nợ là yêu cầu cấp thiết. Các cơ quan lập pháp cần xây dựng hành lang pháp lý đồng bộ và chi tiết. Pháp luật cần chuẩn hóa quy định về hợp đồng mua bán quyền tài sản trong Bộ luật Dân sự. Cần có văn bản hướng dẫn cụ thể về trình tự thông báo và xác nhận quyền của chủ nợ mới. Việc thiết lập sàn giao dịch nợ tập trung sẽ giúp minh bạch hóa thông tin và định giá chính xác khoản nợ. Doanh nghiệp cần chủ động xây dựng quy trình thẩm định pháp lý chặt chẽ trước khi ký kết hợp đồng. Bên mua nợ phải kiểm tra kỹ lưỡng hồ sơ gốc, tính hợp pháp của khoản nợ và năng lực tài chính của bên có nghĩa vụ. Cơ chế xử lý nợ xấu và chuyển nhượng tài sản bảo đảm cần được rút gọn để giảm thiểu rủi ro cho các bên tham gia giao dịch.

3.1. Hoàn thiện quy định pháp luật về chuyển giao quyền tài sản

Nhà nước cần bổ sung các quy định cụ thể về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán quyền đòi nợ. Luật pháp cần làm rõ trách nhiệm bảo đảm khả năng thanh toán của bên bán nợ. Cần quy định rõ cơ chế chuyển giao tự động các biện pháp bảo đảm đi kèm quyền đòi nợ. Thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất bảo đảm cần được đơn giản hóa. Việc đăng ký biến động bên nhận bảo đảm tại các cơ quan chuyên trách cần thống nhất trên toàn quốc. Các quy định mới phải bảo đảm cân bằng quyền lợi giữa bên mua, bên bán và bên có nghĩa vụ trả nợ.

3.2. Phương pháp quản trị rủi ro cho doanh nghiệp khi mua bán nợ

Doanh nghiệp tham gia mua bán nợ cần xây dựng quy trình kiểm soát rủi ro nghiêm ngặt. Việc thẩm định hồ sơ pháp lý của khoản nợ là bước bắt buộc trước khi giao dịch. Doanh nghiệp phải kiểm tra tính hợp pháp của hợp đồng phát sinh khoản nợ gốc. Việc đánh giá khả năng tài chính và tài sản của bên nợ cần tiến hành cẩn trọng. Các điều khoản về bảo đảm và giải quyết tranh chấp trong hợp đồng cần được thỏa thuận chi tiết. Doanh nghiệp nên sử dụng dịch vụ tư vấn pháp lý chuyên nghiệp để soạn thảo hợp đồng chặt chẽ. Điều này giúp ngăn ngừa tối đa tranh chấp và bảo toàn vốn kinh doanh.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn khóa luận hợp đồng mua bán nợ

Khóa luận tốt nghiệp luật học về hợp đồng mua bán quyền đòi nợ mang giá trị học thuật và thực tiễn sâu sắc. Đề tài đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về chuyển giao quyền tài sản trong dân sự. Các phân tích chỉ rõ những vướng mắc pháp lý và rủi ro thực tế trong quá trình thực thi hợp đồng. Kết quả nghiên cứu cung cấp tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên luật, luật sư và các tổ chức kinh tế. Việc nắm vững quy định pháp luật giúp các bên thiết lập giao dịch mua bán nợ an toàn, đúng chuẩn mực. Các giải pháp đề xuất mở ra định hướng hoàn thiện khung pháp lý về thị trường mua bán nợ tại Việt Nam. Thị trường tài chính minh bạch sẽ thúc đẩy lưu thông hàng hóa và khơi thông dòng vốn đầu tư. Đề tài khẳng định vai trò thiết yếu của hợp đồng mua bán quyền đòi nợ trong quản trị tài chính hiện đại.

4.1. Giá trị học thuật và đóng góp của đề tài khóa luận tốt nghiệp

Đề tài khóa luận đóng góp nguồn tư liệu quý báu cho công tác đào tạo luật học. Công trình làm rõ các khía cạnh lý luận về chuyển dịch quyền yêu cầu trong luật tư. Tác giả kết hợp phân tích quy định hiện hành với thực tiễn xét xử tại các tòa án. Công trình luận giải các nguyên tắc cốt lõi về bảo vệ quyền lợi bên thứ ba ngay tình. Các lập luận khoa học giúp sinh viên và học viên cao học củng cố tư duy pháp lý chuyên sâu. Đề tài mở ra các hướng tiếp cận mới trong nghiên cứu thị trường mua bán nợ tại Việt Nam.

4.2. Ứng dụng thực tiễn trong hoạt động của ngân hàng và doanh nghiệp

Kết quả nghiên cứu cung cấp cẩm nang tham khảo giá trị cho các ngân hàng và tổ chức tài chính. Các tổ chức tín dụng có thể chuẩn hóa quy trình xử lý nợ xấu qua VAMC hoặc DATC. Doanh nghiệp mua bán nợ vận dụng các kiến thức để thiết lập hợp đồng chặt chẽ. Hợp đồng rõ ràng giúp bảo vệ tối đa quyền thu hồi vốn trước các tranh chấp phức tạp. Cơ quan xét xử có thêm cơ sở tham khảo khi giải quyết các vụ án chuyển giao quyền yêu cầu. Đề tài thúc đẩy sự chuyên nghiệp hóa và an toàn trong hoạt động kinh doanh nợ.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/06/2026
Khóa luận tốt nghiệp luật học hợp đồng mua bán quyền đòi nợ theo quy định của pháp luật việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. MỘT SO VAN ĐÈ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CUA PHÁP LUAT DÂN SỰ VIỆT NAM VE QUYEN DOI NO VÀ HOP DONG MUA BAN QUYEN DOI NO 1. Khái niệm và đặc diém quyền đòi nợ 1. Khái niệm quyền đòi nợ Trong xã hội từ xưa tới nay, thuật ngữ “no” hay “khoản nợ” đã được đại chúng sử dụng rộng rãi, phổ biến và thường hiểu đơn giản như là cái vay phải tra mà chưa trả!.

Trong từ điển Pháp luật Việt Nam, nợ được định nghĩa là: “Nợ là nghĩa vụ của tô chức kinh tế, cá nhân này phải trả tài sản cho tổ chức kinh té, cả nhân khác”. Cho tới bây giờ, trong các quy định của pháp luật dân sự vẫn không có khái niệm về nợ. Mà thuật ngữ này được định nghĩa trong các Luật, Nghị định của pháp luật chuyên ngành khác, chang hạn như theo Luật quan lý nợ công 2009 20/2009/QH12 thi nợ được định nghĩa trong quy định Giải thích từ ngữ tại Khoản 1 Điều 3 là: “Nợ là khoản phải hoàn trả, bao gầm khoản gốc, lãi, phí và chi phi khác có liên quan tại một thời điểm, phát sinh từ việc vay của chủ thé được phép vay von theo quy định của pháp luật Việt Nam”®. Hay mới hơn, nợ cũng được quy định là “nghĩa vụ trả tài sản của bên no đối với chủ nợ được thể hiện trong hợp đồng hoặc phat sinh quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật ”.

Tuy nhiên trên thực tế, “nợ” hay “khoản nợ” không chỉ giới hạn trong phạm vi về tài sản mà còn mở rộng ra nhiều khía cạnh khác của đời sống. Nó có thé xuất hiện trong các quan hệ dân sự khác nhau như: quan hệ mua bán, quan hệ cho thuê, cung cấp dich vu,. Những quan hệ xã hội này luôn được hình thành trong quá trình xã hội luân chuyền, niên nó sẽ liên quan đến mọi mặt kinh tế, chính trị, xã hội, pháp luật, đạo đức, văn hóa, tôn giáo,. Nói cách khác thi nợ chính là những ràng buộc vô hình giữa con người với con người, chúng có thể phát sinh trong bất kỳ mối quan hệ nào kế trên, các quan hệ xã hội này càng phức tạp thì những nguồn gốc phát sinh nợ nan càng đa dạng, phức tạp hơn.

Có thê dựa trên các tiêu chí đánh giá dé chia từng loại nợ nhưng trong bài khóa luận này, tác giá xin chí đề cập và tập trung phân tích thuật ngữ nợ dưới góc độ liên quan đên tài sản và bam sát y hiéu răng: “Nợ là nghĩa 4 Theo Từ điển Tiếng Việt (Từ điển Hoàng Phê) (2003), trang 741. 5 Nguyễn Ngọc Điệp (2020), Tir điển Pháp luật Việt Nam, Nhà xuất bản Thế giới, trang 264. 6 Luật quan ly nợ công 2009 29/2009/QH12. 7 Nghị định số 69/2016/NĐ-CP của Chính phủ ngày 01/07/2016 về điều kiện kinh doanh dich vụ mua bán nợ.

7 vụ trả tài sản của bên nợ đối với chủ nợ được thé hiện trong hợp đồng hoặc phát sinh quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.” Về quyền đòi nợ, mặc dù đây không phải là một phạm trù quá mới nhưng cho tới nay vẫn chưa có văn bản pháp luật nào ghi nhận chính thức về khái niệm này. Có thé hiểu dưới góc độ pháp luật về nghĩa vụ dân sự rằng: quyền đòi nợ là quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ trả nợ phải thanh toán một khoản tiền hay vật cho bên có quyền theo hợp đồng hoặc thỏa thuận đã được xác lập giữa các bên, tại chính thời điểm đã được thỏa thuận trước. Thực chất thì quyền đòi nợ khá đặc biệt bởi vì nó thé hiện việc một nghĩa vụ vừa là một mối quan hệ về mặt pháp luật mà vừa là một loại tài sản. Bên có quyền chí có thể yêu cầu việc thanh toán này từ phía có nghĩa vụ trả tiền chứ không thể yêu cầu một bên thứ ba nào khác, bởi lẽ đây chí là mối quan hệ giữa bên có quyền và bên có nghĩa vụ trả nợ mà thôiŸ.

Đây chính là phản ánh rõ nét cho tính chất tương đối của quyền đòi nợ. Dưới góc độ của pháp luật về quyên tài sản, quyền đòi nợ là một loại quyền tài sản quy định tại Điều 115 BLDS năm 2015, đồng thời cũng nằm trong bốn loại tài sản được quy định tại Điều 105 BLDS năm 2015. Theo Thông tư số 08/2018/TT-BTP của Bộ tư pháp ngày 20/06/2018 về hướng dẫn một số vấn đề về đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm, hợp đồng và trao đổi thông tin về đăng ký biện pháp bảo đảm tại các trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản của Cục đăng ký quốc gia giao địch bảo đảm thuộc Bộ tư pháp. Theo đó, tại điểm c Khoản 7 Điều 6 của Thông tư có quy định răng quyền đòi nợ là quyền tài sản theo quy định tại Điều 115 BLDS năm 2015 khi quyền đòi nợ được phát sinh từ hợp đồng mua bán nhà ở, hợp đồng góp vốn xây dựng nhà ở, hợp đồng hợp tác đầu tư, hợp tác kinh doanh nhà ở, hợp đồng cho thuê, hợp đồng cho thuê mua nhà ở (bao gồm cả nhà ở xã hội) giữa tô chức với cá nhân hoặc giữa tô chức, cá nhân với doanh nghiệp kinh doanh bất động sản trong dự án xây dựng nhà ở theo quy định của pháp luật về nhà ở; hay phát sinh từ hợp đồng mua bán, hợp đồng góp vốn, hợp đồng hợp tác đầu tư, hợp tác kinh doanh, hợp đồng cho thuê, hợp đồng cho thuê mua công trình xây dựng giữa tổ chức với cá nhân hoặc giữa tổ chức, cá nhân với doanh nghiệp kinh doanh bất động sản trong dự án xây dựng công trình theo quy định của pháp luật về kinh doanh bất động sản.

Như vậy, 8 Bùi Đức Giang (2013), “Khoảng trống pháp luật về quyền đòi nợ”, Tap chí Nhà mước và Pháp luật, số 08, trang 33. § quyền đòi nợ là một loại tài sản và là tài sản có thé được đăng ký biện pháp bảo dam khi có yêu cầu. Theo Điều 295 BLDS, đối tượng được sử dụng dé bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dan sự là “tài sản”, và vì quyền đòi nợ là một loại tài sản nên quyền đòi nợ có thé được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự theo BLDS năm 2015. Từ đó bảo đảm thực hiện nghĩa vụ tai sản giữa hai bên, bên có nghĩa vụ và bên có yêu cầu thực hiện nghĩa vụ.

Căn cứ theo lý thuyết về vật quyền xuất phát từ thời La Mã, được hoàn thiện theo thời gian và tiếp tục được vận dụng vào pháp luật dan sự hiện dai’, thì về mặt cấu trúc kỹ thuật, quyền đòi nợ hình thành từ ba yếu tố: trái quyền (chủ thể có quyền), thụ trái (chủ thé có nghĩa vụ) và đối tượng là khoản nợ'? - hay nói cách khác chính là khoản tiền sẽ được thanh toán vào thời điểm nhất định trong tương lai. Quyền đòi nợ có giá trị tiền tệ, nhưng không có đối tượng là một vật hữu hình nào, người có quyền đòi nợ thực hiện quyền của mình bằng cách yêu cầu người mắc nợ thực hiện nghĩa vụ trả nợ và tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ đó dưới hình thức nhận một số tiền!!. Bởi quyền đòi nợ này là một trái quyền nên quyền đòi nợ được phát sinh từ hợp đồng hoặc bất kỳ hành vi hay sự kiện nào ma hiệu lực của nghĩa vụ bi ràng buộc bởi pháp luật. !” Như vậy, qua những cơ sở lý luận đã phân tích ở trên thì chúng ta có thê khái quát được về khái niệm của quyền đòi nợ như sau: Quyển đòi nợ là quyén tài sản,chủ sở hữu quyên đòi nợ có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ trả một khoản nợ cho minh hoặc có quyên chuyển giao quyên đòi nợ cho chủ thể khác trong giao dịch dân sự.

Ban chất pháp lý của quyền đòi nợ Xét về bản chất pháp lý, quyền đòi nợ khá đặc biệt bởi vì nó thé hiện việc một nghĩa vụ vừa là một mối quan hệ về mặt pháp luật mà vừa là một loại tài sản. Dưới góc độ quyên doi nợ là một môi quan hệ về nghĩa vụ Nguyễn Minh Oanh (2018), Vat guyên trong pháp luật dân sự Việt Nam hiện đại, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, trang 10. !0 18 Trọng Dũng (2020), Điều kiện để quyên doi nợ được làm tài sản thé chấp theo pháp luật Việt Nam”, Tạp chí Kiểm sát, số 20, trang 33. !! Ngô Thị Như Huế (2014), Bảo đảm tiền vay bang quyên doi nợ tại các tổ chức tín dụng theo pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sỹ, Trường đại học Quốc gia Hà Nội, trang 43.

!2 Lê Trọng Dũng, (2022), Thể chấp quyên đòi nợ theo pháp luật Việt Nam, Luận án tiễn sĩ luật học, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, trang 34. Xét về bản chất pháp lý, quyền đòi nợ chính là một nghĩa vụ tài sản của một bên (chủ thể có nghĩa vụ trá nợ) với một bên khác (chủ thể có quyền đòi nợ). Nghĩa vụ ở đây được hiểu là một quan hệ pháp luật được xác lập giữa hai chủ thé theo đó một chủ thé (chủ thé quyền — người có quyền) có thé yêu cầu chủ thé kia (chủ thể nghĩa vụ - người có nghĩa vụ) phải hoàn thành một yêu cầu nhất định!3. Như vậy thi quyền đòi nợ cũng chỉ là một quyền tài sản tương đối, chỉ có hiệu lực ràng buộc đối với chủ thể có nghĩa vụ.

Hay nói cách khác, chủ thể có quyền chỉ có thể thỏa mãn quyền của mình thông qua hành vi thực hiện nghĩa vụ của chủ thê khác (chủ thê mang nghĩa vụ luôn được xác định cụ thể)! Van dụng lý thuyết trái quyên, thì quyền đòi nợ là một trái quyên, không phải là quan hệ pháp lý giữa chủ thể và vật mà là quan hệ pháp lý giữa các chủ thể với nhau, môi quan hệ này có đầy đủ các yếu tố được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quyền đòi nợ cũng là một quyền đối nhân (quan hệ đối nhân) vì bên có quyền chỉ có thể yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện việc thanh toán khoản nợ chứ không có quyền định đoạt đối với bất cứ khoán tài sản nào của bên có nghia vu. Tức mối quan hệ chỉ gói gọn giữa chủ thé và chủ thé. Nên bên có quyền muốn thi hành quyền đòi nợ còn cần phải phụ thuộc vào tài sản đã và đang có của bên có nghĩa vụ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ