Chương 1). Theo Đào Duy Anh (1957), tín ngưỡng là “lòng ngưỡng mộ, mê tín đối với một tôn giáo hoặc một chủ nghĩa” (Việt Nam văn hóa sử cương, tr. Theo Đặng Nghiêm Vạn (2005), “Ở nước ta, thuật ngữ tín ngưỡng có thể có hai nghĩa. Nếu hiểu tín ngưỡng là conscience thì tín ngưỡng bao trùm tôn giáo, nhưng nếu hiểu tín ngưỡng là croyance religieuse thì tín ngưỡng chỉ là một bộ phận chủ yếu nhất cấu thành của tôn giáo” (Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam, tr.
Trong khi tiếp cận tín ngưỡng từ góc độ văn hóa dân gian, các học giả như Phan Kế Bính (1875 - 1921), Toan Ánh (1915 - 2009) đã xem tín ngưỡng là tín ngưỡng dân gian với các nghi lễ thờ cúng thể hiện qua lễ hội, phong tục, tập quán truyền thống của dân tộc Việt Nam. Tô Ngọc Thanh (2006) cho rằng, tín ngưỡng “là niềm tin của con người vào những điều, những sự vật, những nhân vật nào đó”. Nguyễn Chí Bền (2006), từ góc độ văn hóa, xem tín ngưỡng “là một bộ phận cấu thành của văn hóa, được thể hiện thông qua nghi lễ thờ cúng, là lòng ngưỡng mộ, thành kính với những thế lực có ảnh 15 hưởng trong quan hệ với con người”. Nguyễn Quốc Phẩm (1998) thì xem tín ngưỡng “là niềm tin, sự ngưỡng mộ của con người thường gắn với niềm tin tôn giáo”.
Trần Ngọc Thêm (1998) cho rằng, tín ngưỡng cần phải được đặt trong văn hóa tổ chức đời sống cá nhân: “Tổ chức đời sống cá nhân là bộ phận thứ hai trong văn hóa tổ chức cộng đồng. Đời sống mỗi cá nhân trong cộng đồng được tổ chức theo những tập tục được lan truyền từ đời này sang đời khác (phong tục). Khi đời sống và trình độ hiểu biết còn thấp, họ tin tưởng và ngưỡng mộ vào những thần thánh do họ tưởng tượng ra (tín ngưỡng). Tín ngưỡng cũng là một hình thức tổ chức đời sống cá nhân rất quan trọng.
Từ tự phát lên tự giác theo con đường quy phạm hóa thành giáo lý, có giáo chủ, thánh đường, tín ngưỡng trở thành tôn giáo.” (Cơ sở Văn hóa Việt Nam, tr.262) Ngô Đức Thịnh (2018) đã đưa ra quan điểm một cách rõ ràng hơn: “Tín ngưỡng là niềm tin của con người vào thực thể, lực lượng siêu nhiên hay nói tóm lại là niềm tin, sự ngưỡng vọng vào “cái thiêng”, đối lập với cái “trần tục”, hiện hữu mà ta có thể sờ mó, quan sát được. Có nhiều loại niềm tin, nhưng ở đây là niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng, tức là niềm tin vào “cái thiêng”. Do vậy, niềm tin vào cái thiêng thuộc về bản chất của con người, nó ra đời và tồn tại cùng với loài người, nó là nhân tố cơ bản tạo nên đời sống tâm linh của con người, tồn tại bên cạnh đời sống vật chất, đời sống xã hội, tinh thần - tư tưởng, đời sống tình cảm” (Tín ngưỡng lễ hội cổ truyền Việt Nam, tr. Với Nguyễn Đăng Duy (2001): “Ở nước ta, tín ngưỡng tôn giáo như là cơm ăn nước uống, hàng trăm hàng nghìn năm nay, từ thời nguyên thủy còn tồn tại lại sang thời xã hội phong kiến, cho đến ngày nay, chẳng một gia đình nào lại không có bàn thờ cúng, chẳng một làng ấp nào lại không có ngôi đình, đền, miếu thờ Thần, thờ Mẫu” (Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam, tr.
Theo Trần Đăng Sinh (2001), tín ngưỡng bao gồm năm đặc trưng cơ bản như sau: 1) Tín ngưỡng gắn với đời sống tinh thần nói chung 16 2) Tín ngưỡng như là kết quả của sự hình thành và phát triển các quan hệ xã hội, có tác động trở lại các quan hệ đó 3) Tín ngưỡng như là phương thức biểu hiện niềm tin của con người vào cái thiêng liêng, biểu hiện sự bất lực của họ trước sức mạnh thống trị của lực lượng tự nhiên và xã hội 4) Tín ngưỡng như một hiện tượng lịch sử - văn hóa có qui luật hình thành và vận động, biến đổi riêng 5) Tín ngưỡng như là một bộ phận của ý thức xã hội trong quan hệ với tôn giáo, văn hóa, ngôn ngữ, triết học, lịch sử, nghệ thuật, khoa học (Những khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay, tr. Theo Vassilis Saroglou (2020), trong quyển The Psychology of Religion (Tâm lý học Tôn giáo), khi nghiên cứu một tín ngưỡng hay niềm tin có yếu tố tôn giáo, chúng ta cần phải xem xét chúng trong mối tương quan của 4 chiều kích tôn giáo (dimensions of religion) cùng đồng thời hiện diện (co-present), mà những chiều kích này vốn là những nhu cầu hay chức năng tâm lý (psychological needs/functions) mà mỗi cá nhân đều hướng tới, được tác giả đặt cho một công thức chung 4B. Đó là: a) Sự tin tưởng (Believing) liên quan đến yếu tố tri nhận (cognitive); b) Sự kết nối (Bonding) liên quan đến yếu tố tình cảm (emotional); c) Sự ứng xử (Behaving) liên quan đến yếu tố đạo đức (moral); và d) Sự thuộc về (Belonging) liên quan đến yếu tố xã hội (social) Cũng theo Vassilis Saroglou, mỗi tín ngưỡng, tôn giáo phải hội tụ đầy đủ 4 chiều kích này, và tuỳ vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể hay tôn chỉ của tín ngưỡng, tôn giáo đó hướng tới mà cả 4 chiều kích hay chỉ một hai chiều kích riêng biệt sẽ được vận dụng và phát huy. Cá nhân và cộng đồng hướng theo một tín ngưỡng này, hay đi cùng một tôn giáo nọ là do họ tìm được lời giải đáp liên quan đến chức năng tâm lý từ trong tín ngưỡng, tôn giáo đó.
Như vậy, cơ sở của mọi tôn giáo, tín ngưỡng là niềm tin của con người vào những thực thể siêu nhiên. Tín ngưỡng, tôn giáo là thành tố của văn hóa, ra đời gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội loài người. Trên tinh thần đó, chúng tôi đưa ra 17 quan điểm về tín ngưỡng như sau:“Tín ngưỡng là hệ thống những niềm tin, sự ngưỡng vọng của con người vào “cái thiêng” để giải thích thế giới với ước muốn mang lại sự bình an cho cá nhân và cộng đồng”. Trong hoàn cảnh Việt Nam, việc nghiên cứu tín ngưỡng thờ Nguyễn Trung Trực ở Tây Nam Bộ là góp phần vào công tác bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa dân tộc, làm cho những giá trị ấy thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội của mỗi con người, rồi từ đó trở thành sắc thái tâm lý và tập quán tiến bộ, văn minh, phù hợp với từng nhiệm vụ cụ thể nhằm xây dựng và phát triển chiến lược văn hóa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế.
Khái niệm “Anh hùng” “Anh hùng” được từ điển Merriam Webster định nghĩa là “một người được ngưỡng mộ vì những hành động tuyệt vời hoặc dũng cảm hoặc phẩm chất tốt đẹp” [a person who is admired for great or brave acts or fine qualities]. Từ điển Cambridge Dictionary định nghĩa anh hùng là “người được ngưỡng mộ vì đã làm một điều gì đó rất dũng cảm hoặc đã đạt được điều gì đó vĩ đại" [a person who is admired for having done something very brave or having achieved something great]. Từ điển Oxford Advanced Learner's Dictionary cho rằng anh hùng là “một con người, đặc biệt là đàn ông, được nhiều người ngưỡng mộ vì đã làm điều gì đó dũng cảm hoặc tuyệt vời” [a person, especially a man, who is admired by many people for doing something brave or good]. Khi nghiên cứu về thuật ngữ Anh hùng, chúng tôi thường thấy hình tượng anh hùng thường xuất hiện trong hai mô típ: Anh hùng văn hóa (culture hero) và Anh hùng dân tộc (folk or national hero).
Anh hùng văn hóa (culture hero) là một anh hùng thần thoại đặc trưng cho một số nhóm (văn hóa, dân tộc, tôn giáo), những người thay đổi thế giới thông qua những phát minh hoặc bằng sự khám phá của mình. Một anh hùng văn hóa tiêu biểu có thể được coi là người khám phá ra lửa, phát minh nông nghiệp, sáng tác các bài hát, tạo lập các truyền thống, xây dựng luật pháp hoặc tôn giáo, và họ chính là nhân vật huyền thoại quan trọng nhất của một dân tộc, thậm chí họ còn là người sáng lập ra 18 triều đại cai trị. Một anh hùng văn hóa có thể thực hiện những nhiệm vụ khó tin trong cuộc sống này mà người thường không bao giờ nghĩ tới, bởi vì họ rất khác so với con người bình thường chúng ta. Năng lượng của một vị anh hùng văn hóa đều là bẩm sinh.
Anh hùng văn hóa hiếm khi được sinh ra thường xuyên. Khi mẹ họ mang thai, đó không phải là do có yếu tố đàn ông, mà đó là kết quả của trái gió trở trời, của giọt nước tràn ly. Khi một anh hùng văn hóa được sinh ra, họ sẽ là những đứa trẻ rất mạnh mẽ hoặc thậm chí khi ra khỏi bụng mẹ, họ đã là người trưởng thành. Điều quan trọng nhất là, anh hùng văn hóa không đến từ thế giới này.
Một khi anh hùng văn hóa đã hoàn thành sứ mệnh, họ sẽ biến mất. Trong nhiều câu chuyện được kể, anh hùng thường trở về với nguồn cội của mình. Có khi, nơi họ chết sẽ được đánh dấu bằng đá, cây hoặc hồ nước. Kết thúc cuộc đời của một anh hùng văn hóa sẽ dẫn đến việc tạo ra một cái gì đó khác hơn, chẳng hạn như sông ngòi, các chòm sao, mặt trăng và mặt trời.
Anh hùng văn hóa là lời giải thích cho chúng ta về những điều xảy ra trong cuộc sống hàng ngày. Anh hùng dân tộc (folk hero or national hero) là những anh hùng có lai lịch hay tên tuổi rõ ràng cùng với phẩm chất đặc biệt. Hành động của họ gắn liền với tâm thức dân tộc, luôn được nhắc đến nhiều trong bài hát dân gian, trong truyện kể dân gian và các tác phẩm văn học dân gian khác. Mặc dù một số anh hùng dân tộc là nhân vật lịch sử, nhưng đặc điểm và hành động của họ đôi khi được phóng đại đến mức thành huyền thoại.
Anh hùng dân tộc thường bắt đầu cuộc sống như một người bình thường khác, nhưng được sau đó biến đổi thành một người phi thường bởi những sự kiện quan trọng xảy ra trong cuộc sống, thường là trước bất công xã hội và hoặc đôi khi phải đối phó với tai ương. Thể loại chính của anh hùng dân tộc là người bảo vệ dân thường chống lại sự áp bức hoặc sự thối nát của hệ thống/cơ cấu quyền lực đã được thiết lập. Khái niệm về Anh hùng cũng được thay đổi theo thời gian.