CHƯƠNG 1 TỎNG QUAN TƯ LIỆU 1. NƯỚC DAI VIỆT THE KỶ X VÀ SỰ RA ĐỜI CUA KINH ĐÔ HOA LƯ 1.1 Nước Đại Việt thế kỷ X Đối với nước Đại Việt thé kỷ X là thé kỷ củng cỗ nền độc lập và chủ quyền dân tộc, xây dựng quốc gia phong kiến thống nhất, chống giặc ngoại xâm [72: tr 142]. Chiến thắng Bạch Đằng mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử dân tộc, thời kỳ phát triển của quốc gia phong kiến độc lập và lớn lên nhanh chóng của dân tộc. Chiến thắng đó đã đánh bại mưu đồ xâm lược của nhà Nam Hán, khẳng định sự tồn tại vững chắc của đất nước và nâng cao thêm ý thức làm chủ của dân tộc.
Trên cơ sở thắng lợi quân sự oanh liệt đó, Ngô Quyền, người anh hùng của cuộc kháng chiến chống xâm lược đã tiến hành một bước lớn trên con đường củng cô nền độc lập dân tộc. Mùa xuân năm 938, Ngô Quyền quyết định bỏ chức tiết độ sứ của phong kiến phương Bắc và tự xưng vương, lập thành một vương quốc độc lập đàng hoàng. Cổ Loa là kinh đô cũ của nước Âu Lạc thời An Dương Vương lại được chọn làm kinh đô của vương quốc độc lập thế kỷ X. Ngô Quyền đặt ra các chức quan văn võ, quy định các nghỉ lễ trong triều và mau sắc đồ mặc của các quan lại các cấp.
Triều đình của Ngô Quyền được xây dung theo thé chế của một vương triều phong kiến hoàn toàn độc lập. Bộ máy chính quyền đó đã mang tính chất của một bộ máy tập quyền. Tuy nhiên là một chính quyền non trẻ, mới được xây dung nên tổ chức còn đơn giản, mức độ tập quyền chưa cao. Ở nhiều địa phương vẫn còn tồn tại những thế lực phong kiến khá mạnh với cơ sở kinh tế và lực lượng quân sự riêng.
Những 16 phan tử phong kiến đó tuy phục tùng triều đình trung ương và có người giữ chức trong triều, nhưng vẫn duy trì lực lượng riêng của minh và khống chế riêng từng vùng rộng lớn. Những thế lực phong kiến địa phương đó là cơ sở và mầm méng cát cứ trong xã hội lúc bấy giờ. Sau khi Ngô Quyền mất (năm 944), trong triều xảy ra nhiều biến loạn và xung đột làm cho chính quyền trung ương vốn đã mong manh càng thêm suy yếu. Lợi dụng tình trạng đó, các thế lực phong kiến liền nổi dậy, mỗi người hùng cứ một phương và tranh giành nhau quyết liệt.
Đến năm 965 thì chính quyền trung ương bị tan rã và trong nước hình thành mười hai thế lực cát cứ chính gọi là Mười hai sứ quân: - Kiều Công Hãn chiếm giữ Phong Châu (Phú Thọ). - Kiều Thuận chiếm giữ Hồi Hồ ( Phú Thọ) - Nguyễn Khoan chiếm giữ Tam Đái ( Vĩnh Phúc) - Ngô Nhật Khánh chiếm giữ Đường Lâm ( Hà Nội) - Đỗ Cảnh Thạc chiếm giứ Đỗ Động ( Hà Nội) - Ly Khuê chiếm giữ Siêu Loại ( Bắc Ninh) - Nguyễn Thủ Tiệp chiếm giữ Tiên Du (Bắc Ninh) - Lã Đường chiếm giữ Tế Giang (Hưng Yên) - Nguyễn Siêu chiếm giữ Tây Phù Liệt (Hà Nội) - Phạm Bạch Hồ chiếm giữ Đằng Châu (Hưng Yên) - Trần Lam chiếm giữ Bồ Hải Khẩu ( Thái Binh) - Vua Ngô là Ngô Xương Xi cũng rút về chiếm giữ vùng Bình Kiểu ( Thanh Hóa), tự coi mình như một sứ quân [72: tr 143]. Mỗi sứ quân chiếm cứ một vùng khoảng một vài huyện ngày nay, xây thành, đắp lũy và thôn tính lẫn nhau. Loạn Mười hai sứ quân đã gây bao tổn thất đau khổ cho nhân dân và đi ngược lại nguyện vọng hòa bình, thống nhất của dân tộc.
Hơn nữa trong hoàn cảnh một nước nhỏ, nền độc lập vừa giành 17 lại được còn non yếu, luôn bị nạn ngoại xâm đe dọa nghiêm trọng thì cát cứ và nội chiến là một nguy cơ rất hiểm nghèo. Nền độc lập của đất nước, sự sống còn của cả dân tộc đòi hỏi phải giữ vững khối đoàn kết thống nhất, đòi hỏi phải chấm rứt cuộc nội loạn của mười hai sứ quân để khôi phục quốc gia thống nhất và chế độ trung ương tập quyền. Dé là một yêu cầu cấp thiết của lịch sử. Người đã nêu cao ngọn cờ thống nhất quốc gia và có công hoàn thành nhiệm vu lịch sử đó là Dinh Bộ Lĩnh.
Dinh Bộ Lĩnh, người ở động Hoa Lư (Gia Viễn, Ninh Binh). Ông là một người cương nghị, mưu lược và có chí khí lớn. Tại Hoa Lư, ông đã xây dựng được một lực lượng vũ trang khá mạnh và nhân dân trong vùng đều theo phục. Ông lại liên kết với sử quân Trần Lãm ở Bồ Hải Kkhẩu để tăng cường thêm thé lực.
Sau khi Trần Lam chết, ông trở thành người cam đầu một lực lượng vũ trang lớn mạnh. Định Bộ Lĩnh lần lượt đánh bại các sứ quân khác. Đến cuối năm 967, loạn Mười hai str quân bị dập tắt và đất nước trở lại thống nhất. Thắng lợi của Đinh Bộ Linh là thang lợi của xu hướng thống nhất quốc gia, thắng lợi của tinh thần dân tộc và ý chí độc lập mạnh mẽ của nhân dân.
Nạn cát cứ bị dập tắt tương đối nhanh chóng chứng tỏ hoàn cảnh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, chế độ trung ương tập quyền là một nhu cầu tat yếu của lịch sử gắn liền với nhu cầu đoàn kết thống nhất lực lượng để giành và giữ nền độc lập - quyền lợi chung và cao nhất của toàn thể dân tộc. Quốc gia thống nhất làm cho thế nước thêm mạnh và lực lượng quốc phòng được tăng cường. Nhờ đó Đinh Bộ Lĩnh có điều kiện củng cố hơn nữa nền độc lập dân tộc. Năm 968 ông lên ngôi hoàng dé (thường gọi là Dinh Tiên Hoàng), đặt tên nước là Đại Cé Việt.
Hai năm sau ông bỏ niên hiệu của các hoàng dé phương Bắc, tự đặt niên hiệu riêng là Thái Bình. Đó là những biểu 18 hiện mới của tỉnh thần tự chủ, quyết tâm giành độc lập hoàn toàn cho dân tộc và cũng là sự phủ định quyền bá chủ của các hoàng đề phương Bắc. Dưới triều Đinh, chế độ trung ương tập quyền được tiếp tục xây dựng và củng cố. Các thế lực phong kiến địa phương đều bị khuất phục.
Tổ chức chính quyền ở trung ương và các địa phương được sắp xếp lại có quy củ hơn trước. Các nhà sư là tầng lớp có học thức hơn hết trong xã hội lúc đó, đóng vai trò trong việc xây dựng kiến trúc thượng tầng của chế độ phong kiến và được nhà Đinh rất trọng vọng. Sư Ngô Chân Lưu được ban hiệu là Khuông Việt đại sư, giữ chức tăng thống đứng dau tầng lớp tăng lữ và được tham dự triều chính như một cố vấn của nhà vua. Về mặt quân sự, Định Tiên Hoảng ra sức xây dưng một lực lượng quân đội mạnh đủ sức bảo vệ đất nước và đè bẹp xu hướng cát cứ địa phương.
Quân đội được tăng cường và tô chức thống nhất. Tuy vậy, chính quyền trung ương vừa mới được khôi phục, công việc xây dựng và tổ chức lực lượng chỉ mới là bước đầu. Trong tình hình đó, năm 968, Đinh Tiên Hoàng chọn Hoa Lư là vùng núi non hiểm trở để đóng đô. Tại kinh đô mới này, nhà Đinh cho đắp thành, đào hào và dựa vào thế núi xây dựng một công trình phòng ngự kiên cố.
Công việc xây dựng đất nước đang tiến hành chưa được bao lâu thì năm 979, Định Tiên Hoàng bị ám hại và sau đó, nhiều vụ xung đột xảy ra trong nội bộ triều đình. Cuối cùng một người con trai thứ của Đinh Tiên Hoàng mới 6 tuổi được lập lên làm vua. Các thế lực phong kiến thù địch ở trong và ngoài nước lại thừa dip tiến hành âm mưu lật đồ và thôn tính. Ngô Nhật Khánh là một sứ quân trước đây đã bị đánh bại phải về hàng rồi chén sang nước Cham-pa về định đánh phá kinh thành Hoa Lu.
Nhưng vừa vượt biển tiến vào cửa sông nước ta thì đoàn chiến thuyền này gặp bão va bị đắm gần hết. Nạn cướp phá của phong kiến phương Nam vì thế bị loại trừ. 19 Nhưng ngay sau đó, dân tộc ta lại phải đương đầu với nạn ngoại xâm lớn của phong kiến phương Bắc. Lúc bấy giờ ở Trung Quốc, nhà Tống đã thành lập và đã hoàn thành việc thống nhất quốc gia.
So với nhà Nam Hán - một sản pham sau sự tan dã của nhà Đường thì nhà Tống là một triều đại cường thịnh của một quốc gia phong kiến lớn nhất châu Á đương thời. Vvới khí thế đang lên của một triều đại phong kiến lớn tự coi mình là “thiên triều” có quyền thống trị các nước chung quanh, nhà Tống nhân sự suy yếu của triều Đinh, đã phát động cuộc chiến tranh xâm lược nước ta. Vận mệnh của cả dân tộc đang bị nạn ngoại xâm de dọa nghiêm trọng. Chính quyền độc lập còn non trẻ đang đứng trước một thử thách lớn.
Trong lúc đó, vua Dinh còn ít tuổi chưa đủ khả năng và uy tin dé tổ chức và lãnh đạo cuộc kháng chiến. Vì sự nghiệp bảo vệ độc lập dân tộc, quân sĩ và một SỐ quan lại liền suy tôn Lê Hoàn lên làm vua. Lê Hoàn là một người có uy tín trong triều, lúc bấy giờ đang giữ chức thập đạo tướng quân là chức tông chi huy quân đội. Lê Hoàn lên ngôi vua, lập nên một triều đại mới, trong sử gọi là triều Tiền Lê.
Một nhiệm vụ lịch sử trọng đại đang đặt ra trước toàn thể đân tộc và triều Tiền Lê là gấp rút tổ chức cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống. Đầu năm 981, quân Tống theo hai đường thủy, bộ ào ạt tiến vào xâm lược nước ta. Quân bộ từ Ung Châu (Quảng Tây) theo đường Lạng Sơn tiến vào. Quân thủy từ Quảng Châu (Quảng Đông) vượt biển tiễn sang.
Hai đạo quân thủy bộ của dich dy định sẽ phối hợp với nhau tiến vào vây hãm kinh thành Hoa Lư. Lê Hoàn trực tiếp tổ chức và lãnh đạo kháng chiến. Phát huy sáng tạo chiến thuật của Ngô Quyền hơn bốn mươi năm trước, ông sai quân sỹ đóng 20 cọc ở sông Bạch Đằng để ngăn chặn chiến thuyền của địch. Trên các đường tiến quân của địch ông bố tri sẵn các lực lượng chống cự.
Khoảng cuối mùa xuân năm 981, trên mặt trận thủy chiến ở sông Bạch Dang đã say ra những trận chiến ác liệt. Với truyền thống thủy chiến ưu việt của dân tộc, quân ta chiến đấu hết sức ding cảm, đánh lui thủy quân địch và làm thất bại kế hoạch phối hợp hai đạo quân thủy bộ của chúng. Trên các mặt trận khác, quân ta cũng chặn đánh quyết liệt.