phần mở đầu của Luật Di sản văn hóa Việt Nam đã viết: “Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta” [70], bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam - một bộ phận của Di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta. [71] b – Di tích: Di sản văn hóa vật thể bao gồm: Di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh (gọi là di tích); Di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia. Di tích là các di tích lịch sử, di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích khảo cổ, danh lam thắng cảnh và được chia thành 4 loại: Một là, di tích lịch sử bao gồm: những công trình xây dựng, địa điểm ghi dấu sự kiện mốc lịch sử quan trọng của dân tộc hoặc gắn với anh hùng dân tộc, danh nhân, nhà hoạt động chính trị, văn hóa, nghệ thuật, khoa học nổi tiếng có ảnh hưởng quan trọng đối với tiến trình lịch sử của dân tộc: di tích lăng mộ và đền thờ, di tích tượng đài chiến sĩ, di tích chiến tích giải phóng. Hai là, di tích kiến trúc nghệ thuật bao gồm: công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu trong giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ 16 thuật Việt Nam.
Ba là, di tích khảo cổ học là những địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển văn hóa khảo cổ. Bốn là, di tích danh lam thắng cảnh là: cảnh quan thiên nhiên đẹp hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật hoặc khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mao, địa lý, địa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù. Và di tích là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học. Đình Phong Phú là một di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia được Bộ Văn Hóa ban hành quyết định công nhận vào năm 1993.
Di tích lịch sử - văn hóa là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử; do tập thể hoặc cá nhân con người hoạt động sáng tạo ra trong lịch sử để lại [16; trang 17]; là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật cũng như có giá trị về văn hóa khác hoặc có liên quan đến những sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hóa, xã hội; là những công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” được xem là khái niệm về di sản văn hóa vật thể được sử dụng chung nhất ở nước ta hiện nay, hoàn toàn tương tự như khái niệm về di sản văn hóa được sử dụng trên thế giới. Điều đó cũng có nghĩa là di sản văn hóa cũng là của cải, là tài sản quốc gia và mọi công dân phải có nghĩa vụ bảo vệ, giữ gìn. Công ước về Bảo vệ Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới của UNESCO, những loại hình được coi là “di sản văn hóa” và “di sản thiên nhiên” đều có đặc điểm chung là “có giá trị toàn cầu nổi bật”[21]. Như vậy Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, nghệ thuật cũng như có giá trị văn hóa khác, hoặc liên quan đến các 17 sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hóa xã hội.
Bao gồm các di chỉ khảo cổ, thành lũy, đồn ải, hầm hòa, địa đạo, lâu đài, cung điện, lăng, mộ, đình, đền chùa, miếu, quán, tháp, nhà cửa, địa điểm diễn ra các sự kiện lịch sử, cách mạng, kháng chiến của dân tộc. c - Tín ngưỡng: Được hiểu là sự tôn kính và kính phục một điều gì đó. Theo từ điển tiếng Việt, thuật ngữ “tín ngưỡng” có nghĩa là niềm tin đối với tôn giáo [27; tr. 947]; niềm tin vào sức mạnh của lực lượng siêu nhiên và được biểu hiện thông qua các nghi lễ thờ cúng của nhân dân, bày tỏ niềm tin và sự tôn kính mang tính thiêng.
“Từ xa xưa, con người cảm nhận thế giới qua những niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên đã hình dung ra thần thánh có sức mạnh diệu kỳ, mặc nhiên thống trị cuộc sống dân gian. Niềm tin đó tạo nên những hoạt động tương ứng, biểu hiện qua việc thờ cúng, các nghi lễ, tập tục. Tất cả những điều trên làm nên tín ngưỡng dân gian” [28; tr. Và trong quyển Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam, tín ngưỡng được hiểu là niềm tin của con người vào cái gì đó thiêng liêng, cao cả, siêu nhiên, hay gói gọn lại là niềm tin, ngưỡng vọng vào “cái thiêng”, đối lập với “cái trần tục”, hiện hữu mà ta có thể sờ mó và quan sát được.
Có nhiều loại niềm tin, nhưng ở đây là niềm tin của tín ngưỡng là niềm tin vào “cái thiêng”. Do vậy, niềm tin vào cái thiêng thuộc về bản chất của con người, nó là nhân tố cơ bản tạo nên đời sống tâm linh của con người, cũng giống đời sống vật chất, đời sống xã hội tinh thần, tư tưởng, đời sống tình cảm. 16] d – Đình: Theo Hà Văn Tấn, Đình là ngôi nhà công cộng của cộng đồng làng xã Việt Nam. Nơi đây ba chức năng được thực hiện: hành chính, tôn giáo và văn hóa.
Về chức năng hành chính, đình là nơi để họp bàn về các “việc làng”, để xử kiện, phạt vạ. theo những quy ước của làng. Về chức năng tôn giáo, đình là nơi thờ thần của 18 một làng, thường là một vị, nhưng cũng có khi nhiều vị, được gọi là “Thành hoàng” làng. Về chức năng văn hóa, đình là nơi biểu diễn các kịch hát, như chèo, hay hát cửa đình – tức ca trù.
[40] và theo tác giả Phạm Anh Dũng, làng mới được thành lập luôn luôn đòi hỏi có những cơ sở công ích, trong đó có hệ thống văn hóa “đình, chùa, miếu, võ”, là nhu cầu tâm linh cơ bản của một làng truyển thống. Hơn nữa, với lối sống trọng tình vốn có của cư dân nông nghiệp, các nhân vật có công khai khẩn đất hoang, mở chợ, sửa cầu, đắp lộ. làm lợi cho cộng đồng dân cư được tôn thành “tiền hiền và hậu hiền”, được người dân muôn đời thờ tự theo đạo lý “uống nước nhớ nguồn”. [15] đ – Bảo tồn và phát huy: Bảo tồn không chỉ có nghĩa là “hoài cổ, hoài niệm” có tính “chiêm ngưỡng” đơn thuần, mà còn mang ý nghĩa bảo tồn để phát huy về giá trị tinh thần (giáo dục truyền thống cội nguồn, bản sắc) và một điều hết sức quan trọng chính là phát huy về giá trị kinh tế.
Bảo tồn là giữ nguyên hiện trạng, không để mất đi: bảo tồn di tích lịch sử, bảo tồn nền văn hóa các dân tộc [59; tr. Phát huy là làm cho cái hay, cái tốt tỏa tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm [58; tr. Trong Điều 17 của luật Di sản văn hóa năm 2001 quy định về bảo vệ và phát huy di sản văn hóa phi vật thể như sau: “Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản, truyền dạy và giới thiệu di sản văn hóa phi vật thể nhằm giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và làm giàu kho tàng di sản văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam”.2 Quan điểm bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc là nhiệm vụ then chốt của chiến lược phát triển văn hóa. Tập trung điều tra toàn diện, nghiên cứu, sưu tầm, bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa và văn hóa phi vật thể; các loại hình 19 nghệ thuật cổ truyền đặc sắc, văn hóa dân gian của từng địa phương, từng vùng văn hóa, từng vùng dân tộc, nghề thủ công truyền thống, lễ hội tiêu biểu, kho tàng Hán Nôm.
Kết hợp hài hòa việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa với các hoạt động phát triển kinh tế, du lịch bền vững. Muốn bảo tồn và phát huy giá trị di tích chúng ta phải nhận thức rõ đối tượng mà mình quản lý về mặt định tính, định lượng cũng như nét đặt trưng tiêu biểu nhất. Và sau đó là áp dụng các biện pháp kỹ thuật bảo quản, tu bổ, tôn tạo di tích và sáng tạo các hình thức, nội dung hấp dẫn để tuyên truyền, phổ biến các mặt giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của di tích rộng rãi đến công đồng trong toàn xã hội. Cho đến nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về bảo tồn, nhưng có thể đưa ra hai quan điểm về bảo tồn cơ bản, đó là bảo tồn nguyên vẹn và bảo tồn trên cơ sở kế thừa.
Bảo tồn nguyên vẹn là “.những sản phẩm của quá khứ nên được bảo tồn nguyên vẹn như nó vốn có để tránh tình trạng thế hệ hiện tại làm méo mó, biến dạng di sản” [35; tr. Có thể nói, đây là một hình thức bảo tồn dạng “tĩnh”, bởi vì hình thức bảo tồn này chủ yếu là vận dụng khoa học kỹ thuật để đảm bảo giữ nguyên trạng thái những di sản văn hóa. Ví dụ như, đối với di sản văn hóa vật thể thì phải bảo tồn giữ nguyên hiện trạng các hiện vật, di tích lịch sử - văn hóa như cái vốn có về kích thước, màu sắc, kiểu dáng, vị trí. Đối với di sản văn hóa phi vật thể thì bảo tồn nguyên trạng là tiến hành điều tra, sưu tầm, thu thập các dạng thức văn hóa phi vật thể như cái vốn có của nó, lưu giữ bằng bản ghi chép, băng ghi hình.