Chương 1: Bối cảnh đất nước, quê hương và thân thế của Ngô Quyền. Chương 2: Ngô Quyền với sự nghiệp bảo vệ nền độc lập và xây dựng đất nước. Chương 3: Đóng góp của Ngô Quyền với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. B I CẢ ĐẤT ỚC, QUÊ Ơ G VÀ T Â T Ế CỦA NGÔ QUYỀN 1.
Bối cảnh khu vực và Việt am đầu thế kỉ X 1. Bối cảnh khu vực 1. Sự suy yếu của phong kiến phương Bắc nửa đầu thế kỉ X Vào cuối thế kỉ IX đầu thế kỉ X, tình hình loạn lạc ở Trung Quốc diễn ra liên t c gây ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế và đời sống nhân dân. Chính quyền trung ương ở Trường An trở nên suy yếu, nạn cát cứ của các tập đoàn quân phiệt phong kiến ngày càng trầm trọng, chế độ quân điền bị phá sản.
Tầng lớp lãnh chúa và địa chủ địa phương ra sức cướp đất lập trang trại và thu nạp dân lưu vong, nạn ngoại xâm đe dọa ở biên giới càng dâng cao, tất cả các yếu tố đó làm cho nhà Đường lúng túng, bất lực. Đầu thế kỉ X, nhà Đường ngày càng suy yếu trầm trọng và chỉ còn tồn tại về mặt hình thức. Năm 904, Lý Chúc lên ngôi tức Chiêu Tuyên Đế (Đường Ai Đế) trở thành vị hoàng đế cuối cùng của nhà Đường. Tháng 4 năm 905, nhà Đường lấy Môn hạ Thị lang Đồng bình chương sự Độc Cô Tổn giữ chức Tĩnh Hải Tiết độ sứ thay Chu Toàn D c.
Sang An Nam cai trị chưa được bao lâu Độc Cô Tổn đã nổi danh là Thượng thư tàn độc. Vốn không về phe đảng với Chu Toàn Trung nên chỉ hai tháng sau, Độc Cô Tổn bị Chu Toàn Trung cho vào danh sách đại thanh trừng các đại thần có xuất thân quý tộc. Bước đầu tiên là giáng chức và đày ải một lượng lớn đại thần. Độc Cô Tổn trở thành Thứ sử Lệ Châu (nay thuộc Tân Châu, Sơn Đông) và sau đó là Ty hộ Quỳnh Châu (trị sở nay thuộc Định An, Hải Nam).
Không lâu sau, khoảng 30 đại thần bị giáng chức, trong đó có Độc Cô Tổn. Họ bị đưa đến tập trung ở Bạch Mã dịch (nay thuộc An Dương, Hà Nam) và được lệnh phải tự sát 15 (Nguyễn Quang Ngọc, 2020, tr. Lúc này, chính quyền trung ương nhà Đường bấy giờ suy yếu, chia năm xẻ bảy vì nạn phiên trấn cát cứ; phe phái bài xích lẫn nhau. Đến năm 907, nhà Đường s p đổ hoàn toàn.
Trung Quốc lúc này bước vào thời kì hỗn loạn với c c diện chính trị “ngũ đại thập quốc” kéo dài từ năm 907 đến năm 979 (năm đời: 1. Hậu Chu; mười nước: 1. Riêng ở khu vực Quảng Đông, từ đầu thế kỉ X, thế lực họ Lưu cát cứ mỗi ngày một mạnh. Năm 908, nhà Hậu Lương (do Chu Toàn Trung sáng lập năm 907 sau khi cướp ngôi nhà Đường) phong cho Lưu Ẩn làm Tiết độ sứ Quảng Châu kiêm Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ An Nam đô hộ phủ với ý định buộc nước ta ph thuộc vào chính quyền Quảng Châu.
Năm 911, Lưu Ẩn chết, em là Lưu Cung lên thay. Tháng 9 năm 917, Lưu Cung cát cứ ở Quảng Châu, tự xưng là hoàng đế. Năm 918, Lưu Cung đổi niên hiệu là Hán, tức Nam Hán, một trong mười nước cát cứ thời Ngũ đại – Thập quốc1. Điều này cho thấy, Nam Hán là một tiểu triều đình Trung Quốc cát cứ ở phía Nam (Quảng Châu).
Với việc lên ngôi hoàng đế, đặt quốc hiệu là Hán, Lưu Cung có ý thức coi nước Hán của mình (thế kỉ X) là kế t c đế thống nước Hán của Lưu Bang thay thế Đại Tần. Từ tư tưởng Đại Hán đó, Lưu Cung chủ trương tiến quân lên phía Tây chiếm đất Th c, tiến về đông bắc, ra tận biển, tiến xuống phía nam, xâm lược lại Giao Châu, Chiêm Thành và các nước lân cận. Theo sử cũ ghi chép thì Lưu Cung muốn lôi cuốn quân sĩ vào các cuộc chiến tranh chinh ph c, y chủ trương tung nhiều của cải để hậu đãi mua chuộc các danh tướng rồi tiến hành bành trướng. 1 Sử Trung Quốc gọi là Nam Hán để phân biệt với nhà Hậu Hán thành lập năm 947 ở triều đình trung ương và nhà Bắc Hán thành lập ở Sơn Tây, Thái Nguyên.
16 Đối với vùng Nam Hải, Lưu Cung từng trấn trị lâu ngày, khi lên ngôi y càng tìm cách vơ vét nhiều hơn ngọc trai, châu báu. Sử chép: “Lưu Nghiễm (tức Lưu Cung) sống quá xa xỉ, châu ngọc lấy từ Nam Hải về chứa chất đầy nhà, trang sức cung điện lộng lẫy; khách khứa, thương nhân đến hầu cống, Lưu Nghiễm thường mang châu báu ra khoe”(Viện lịch sử quân sự Việt Nam, 2019, tr. Đối với phía Tây, Lưu Cung chủ trương chiếm đất Kiềm, đất Th c, mở thêm mấy nghìn dặm trong quá trình bành trướng thế lực để chiếm đất và vơ vét ngọc ngà châu báu; dùng của cải hoặc hôn nhân để tranh thủ thế lực các hào trưởng địa phương. Đối với phương Bắc, Nam Hán thường đặt quân đội để ngầm dò thám thế lực vùng Trung Nguyên, Hà Từ lấy danh nghĩa là thống sứ với Đường Trang Tông thực chất là tâm phúc của Lưu Cung, đã báo về rằng: Thế lực nhà Hậu Đường chẳng có gì đáng sợ.
Vì thế nhà Nam Hán đã quyết tâm cất quân đánh Giao Châu. Cho đến đầu thế kỉ X, phong kiến phương Bắc đã trải qua thời kì loạn lạc, đầy biến động. Vào năm 911 Lưu Cung lên ngôi Hoàng Đế nắm mọi quyền hành, để củng cố quyền lực ông đã cho thực hiện xâm lược, bành trướng ra các vùng xung quanh, trong đó Giao Châu là một trong số vùng đất mà Nam Hán quyết tâm thu ph c. Phương Nam là vùng đất Lưu Cung thèm khát đã lâu và luôn nung nấu ý đồ bành trướng nhưng biết không dễ gì bắt Giao Châu thần ph c ngay được.
Một phần do người Giao Châu ngoan cường, quả cảm; một phần do tình hình Trung Quốc đầu thế kỉ X rất phức tạp. Khi mới lập quốc, nhà Nam Hán còn lo đánh chiếm các khu vực chung quanh. Trước khi lập quốc, họ Lưu đã đánh bại được các trại ở Giang Đông, giết bọn Xương Lỗ, đổi đặt thứ sử mới, đem binh đánh bại họ Lư, chiếm được Thiều Châu, Triều Châu; về phía Tây, họ Lưu chiếm được Ung Quản (Nam 17 Ninh) tranh đất Dùng, Quế với Sở Vương Mã Ân. Nhờ khai thác được nhiều ngọc trai và phát triển buôn bán với miền nội địa Trung Quốc, lại giao hảo với Nam Chiếu ở Vân Nam, họ Lưu tích lũy được nhiều của cải, Nam Hán trở nên cường thịnh và có xu hướng bành trướng.
Năm 928, Nam Hán lên kế hoạch đánh Giao Châu, nhưng bị nước Sở đưa quân vây chiếm đất Hạ Giang. Mấy trận đầu Nam Hán thua, nhưng sau đó nhờ chiến thuật thủy trận tài tình của đại tướng Tô Chương, Nam Hán mới thắng quân Sở. “Lúc đó Lưu Cung sai Tô Chương đem 3000 quân bắn nỏ giỏi, lập mưu mai ph c ở hai bên bờ sông và dùng dây xích sắt thả lửng giữa sông đánh bại cuộc tiến công của nước Sở ở Giang Hạ thuộc Phong Châu, bảo vệ an toàn vùng biên giới phía Bắc (Viện lịch sử quân sự Việt Nam, 2019, tr. Tình hình loạn lạc ở Trung Quốc tạm thời lắng xuống từ khi Lưu Cung lên ngôi, với quyền lực và địa vị của mình, vua Nam Hán ra sức củng cố quyền lực và kiểm soát các thế lực chống đối ở các vùng lân cận, sau khi thế lực đã đủ lớn mạnh và mặt Bắc được tạm yên, Lưu Cung bắt đầu thực hiện âm mưu bành trướng xuống phía Nam mà m c tiêu đầu tiên và quan trọng nhất là Việt Nam.
Tình hình các nước Chân Lạp, Ai Lao, Champa Các nước láng giềng của Việt Nam thời kì này có nhiều biến động, tác động không nhỏ đến quá trình xây dựng và phát triển quốc gia Việt Nam. Thứ nhất, đất nước Chân Lạp: Vào thế kỉ IX, Thủy Chân Lạp (Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long của Việt Nam hiện nay) bị chia thành 5 tiểu quốc. Do vậy, khu vực này thiếu sự liên kết, quyền hành bị phân chia không những vậy còn bị “giặc biển Mã – Lai và Nam – Dương từ Java cướp phá” (Nguyễn Thế Anh, 1972, tr. Vào năm 802, vua Jayavarman II lên ngôi.
Trong 48 năm trị vì từ 802 đến 850, vị vua này cố gắng thống nhất các xứ sở bằng cách liên kết hai miền Bộ Chân Lạp và Thủy Chân Lạp, giải phóng khỏi sự đô hộ 18 của Java. Giai đoạn 850 – 877, vua Jayavarman III kế vị vua Jayavarman II, ở thời kì vị vua này, hậu thế chỉ biết đến ông là một nhà săn voi giỏi. Vì không có con nối dõi, nên khi Jayavarman III mất đi, Indravarman I (877 – 889) một người họ xa của ông lên nối nghiệp. Dưới thời vua này, vương quốc Khmer trải qua một giai đoạn thái bình, ông thực hiện nhiều chính sách chú trọng các công trình thủy nông, cho dân đào ở phía Bắc kinh đô Hariharalaya một hồ chứa nước lớn để dẫn nước vào vào mùa nước cạn.
Năm 889, vua Indravarman I được kế nghiệp bởi con trai ông là Yacovarman, “vị vua này thuộc dòng họ ngoại của các vị via các vương thống cổ xưa của Phù Nam và Chân Lạp, có học thức uyên bác” (Nguyễn Thế Anh, 1972, tr. Sau khi nối ngôi, ông tiến hành nhiều chính sách để phát triển kinh tế, xây dựng các công trình thủy nông, xây dựng các đền để thờ tổ tiên. Đặc biệt, ông cho xây dựng kinh đô thứ nhất là Angkor: Tỉnh Yacodharapura. Ngoài ra, ông còn mở rộng thêm bờ cõi quốc gia bằng cách “đánh thắng giặc biển Chàm, bành trường lãnh thổ từ hạ Lào cho tới Vịnh Xiêm La và từ bờ biển Nam Việt cho tới Miến Điện” (Nguyễn Thế Anh, 1972, tr.
Khoảng năm 900, Yacovarman qua đời và được kế tiếp bởi những vị vua ít năng lực. Vào năm 921, vua Jayavarman IV dời kinh đô lên phía Đông Bắc cách Angkor 80km. Nối tiếp ông là Rajendravarman vào năm 944, ông cũng tiếp hành xây dựng nhiều ông trình như đền thời linga thần, thờ tổ tiên của vua và thờ tượng nhà vua. Ông cũng tiến hành gây chiến với Chiêm Thành (945 – 946).
Kế vị vua Rajendravarman là Jayavarman V (968 – 1001) – con trai ông. Đây là vị vua tài giỏi và có học thức uyên thâm. Ông cũng có nhiều chính sách xây dựng và phát triển đất nước. Ông theo đạo Phật và che chở cho đạo Phật, cho mua nhiều sách về đạo Phật đại thừa, cho xây dựng nhiều đền và thờ cúng tổ tiên.