Chương 1: Một số vấn đề lí luận chung. + Chương 2: Giá trị văn hoá của một số di tích thờ Trần Hƣng Đạo ở Hải Phòng. + Chương 3: Thực trạng và một số giải pháp, kiến nghị nhằm bảo tồn các giá trị văn hoá, phát triển du lịch tại một số di tích thờ Trần Hƣng Đạo ở Hải Phòng. Sinh viên: Trần Xuân Hằng - Lớp: VHL 201 6 Tìm hiểu một số di tích thờ Trần Hưng Đạo ở Hải Phòng CHƢƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG 1.1 Khái niệm du lịch Ngày nay, trên phạm vi toàn thế giới, du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu đƣợc trong đời sống văn hoá - xã hội và hoạt động du lịch đang đƣợc phát triển một cách mạnh mẽ trở thành ngành kinh tế quan trọng ở nhiều nƣớc trên thế giới.
Không giới hạn là những cuộc dã ngoại phạm vi nhỏ, các chuyến du lịch quốc tế mở ra rất nhiều sự mới mẻ thoả mãn con ngƣời không dừng lại chỉ ở nghỉ ngơi, giải trí, mà đó còn là đáp ứng nhu cầu to lớn về mặt tinh thần, cung cấp nguồn kiến thức vô hạn và các mối quan hệ giữa các dân tộc đƣợc mở rộng, làm nền tảng cơ sở vững chắc cho nền hoà bình thế giới. Thuật ngữ “du lịch” trong ngôn ngữ nhiều nƣớc, bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp với ý nghĩa là “đi một vòng”. Thuật ngữ này đƣợc Latinh hoá thành “tornes” và sau đó thành “tourisme” (tiếng Pháp), “tourism” (tiếng Anh)…v. Theo Robert Lanquar, từ “tourist” lần đầu tiên đƣợc xuất hiện trong tiếng Anh vào khoảng năm 1980.
Trong tiếng Việt, thuật ngữ Tourism đƣợc thông dịch qua tiếng Hán. Du có nghĩa là đi chơi, lịch có nghĩa là từng trải. Tuy nhiên, ngƣời Trung Quốc gọi Tourism là du lãm với nghĩa là đi chơi để nâng cao nhận thức. Ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tƣợng kinh tế – xã hội phổ biến không chỉ ở các nƣớc phát triển mà còn ở các nƣớc đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
Trong vòng hơn 6 thập kỉ qua, kể từ khi thành lập Hiệp hội Quốc tế các tổ chức du lịch IUOTO (International of Union Official Travel Organization) năm 1925 tại Hà Lan, khái niệm du lịch luôn đƣợc tranh luận. Do hoàn cảnh (thời gian và khu vực) khác nhau, dƣới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi ngƣời có một cách hiểu khác nhau. Đúng nhƣ một chuyên gia về du lịch đã nhận định: “Đối với du lịch, có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa”. Cho rằng du lịch không chỉ là hiện tƣợng di chuyển của cƣ dân mà phải là tất cả những gì có liên quan đến sự di chuyển đó nên Hunziker và Kraff định nghĩa: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ và hiện tƣợng bắt nguồn từ cuộc hành trình và lƣu trú tạm thời của các cá nhân tại những nơi không phải là nơi ở và nơi làm việc thƣờng xuyên của họ”.
Sinh viên: Trần Xuân Hằng - Lớp: VHL 201 7 Tìm hiểu một số di tích thờ Trần Hưng Đạo ở Hải Phòng Dƣới con mắt của các nhà kinh tế, văn hoá học, du lịch không chỉ là một hiện tƣợng xã hội đơn thuần mà nó phải gắn chặt với hoạt động kinh tế, tuy nhiên mỗi học giả lại có những nhận định khác nhau: Với cố gắng chỉ ra một khía cạnh kinh tế của du lịch, Picara Edmod đã đƣa ra định nghĩa nhƣ sau: “Du lịch là tổng hoà việc tổ chức và chức năng của nó không chỉ về phƣơng diện khách vãng lai mà chính về phƣơng diện giá trị do khách chỉ ra và của những khách vãng lai đến với túi tiền đầy, tiêu dùng trực tiếp (trƣớc hết trong khách sạn) và gián tiếp cho các chi phí của họ nhằm thảo mãn nhu cầu hiểu biết và giải trí”. Azar nhận thấy “du lịch là một hình thức di chuyển tạm thời từ vùng này sang vùng khác, từ một nƣớc này sang một nƣớc khác, nếu không gắn với sự thay đổi lƣu trú hay nơi làm việc”. Theo Kaspar “du lịch là toàn bộ những quan hệ và hiện tƣợng xảy ra trong quá trình di chuyển và lƣu trú của con ngƣời tại nơi không phải là nơi thƣờng xuyên làm việc của họ”. Trong quá trình hoạt động du lịch, thực tế chỉ ra rằng ngoài tiếp cận môi trƣờng, phải có tiếp cận cộng đồng mới đảm bảo cho một sự phát triển lâu dài.
Các tác giả Hoa Kỳ Rober W. R Brent Ritchie phát biểu về du lịch nhƣ là: “Tổng hoà các hiện tƣợng và mối quan hệ nảy sinh từ tác động qua lại giữa du khách, nhà cung ứng, chính quyền và cộng đồng chủ nhà trong qúa trình thu hút đón tiếp khách du lịch”. Trong cuốn “Du lịch và kinh doanh du lịch” của Trần Nhạn có viết: “Du lịch là quá trình hoạt động của con ngƣời rời khỏi quê hƣơng đến một nơi khác với mục đích chủ yếu là đƣợc thẩm nhận những giá trị vật chất và tinh thần đặc sắc, độc đáo, khác lạ với quê hƣơng, không nhằm mục đích sinh lời đƣợc tính bằng đồng tiền”. Theo luật du lịch Việt Nam (2005) giải thích: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con ngƣời ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dƣỡng trong một khoảng thời gian nhất định”.
(Điều 4) Nhƣ vậy, qua các định nghĩa trên có thể hình dung đƣợc sự biến đổi trong nhận thức về nội dung thuật ngữ du lịch. Khái niệm du lịch là khái niệm bao hàm nội dung kép, một mặt nó mang ý nghĩa thông thƣờng của từ, việc đi lại liên quan đến mục đích nghỉ ngơi giải trí; mặt khác du lịch là một liên ngành Sinh viên: Trần Xuân Hằng - Lớp: VHL 201 8 Tìm hiểu một số di tích thờ Trần Hưng Đạo ở Hải Phòng liên quan đến nhiều thành phần quan trọng (khách du lịch, phƣơng tiện giao thông, địa bàn đón khách…) 1.2 Khái niệm văn hoá Văn hoá là sản phẩm do con ngƣời sáng tạo có từ thuở bình minh bắt đầu xã hội loài ngƣời. Ở phƣơng Đông văn hoá theo tiếng Trung Quốc là “Văn trị, giáo hoá” tức là cách cai trị mang hình thức đẹp đẽ kết hợp với giáo hoá, bản thân từ văn là biểu thị ra bên ngoài, là vẻ đẹp do màu sắc tạo ra, nó biểu hiện thành một hệ thống các quy tắc ứng xử đƣợc xem là đẹp đẽ. Ở phƣơng Tây văn hoá theo phiên âm La-tinh bắt nguồn từ hai nghĩa: - Cultus: trồng trọt ở ngoài đồng - Cultusanimi: trồng trọt tinh thần, nghĩa là giáo dục con ngƣời Con ngƣời chỉ có thể có văn hoá thông qua giáo dục dù vô thức hay có ý thức, con ngƣời không thể tự nhiên có văn hoá nhƣ tự nhiên, bản thân con ngƣời có cơ thể còn có nghĩa là giáo dục bồi dƣỡng con ngƣời, tinh thần con ngƣời để có những phẩm chất tốt đẹp.
Tuy vậy, việc xác định và sử dụng khái niệm Văn hoá không đơn giản và thay đổi theo thời gian. Thuật ngữ Văn hoá với nghĩa “canh tác tinh thần” đƣợc sử dụng vào thế kỷ thứ XVII – XVIII bên cạnh nghĩa gốc quản lí canh tác nông nghiệp. Vào thế kỷ thứ XIX, thuật ngữ “Văn hoá” đƣợc những nhà nhân loại học phƣơng tây sử dụng nhƣ một danh từ chính. Những học giả này cho rằng văn hoá có thể phân ra từ trình độ thấp nhất đến trình độ cao nhất và văn hoá của họ chiếm vị trí cao nhất.
Bởi vì họ cho rằng bản chất của văn hoá hƣớng về trí lực và sự vƣơn lên, sự phát triển dựa vào văn minh, EB.Taylo là đại diện của họ. Theo ông “Văn hoá là toàn bộ những phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngƣỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, những khả năng và tập quán khác mà con ngƣời có đƣợc với tƣ cách là một thành viên của xã hội”. Ở thế kỷ XX, khái niệm văn hoá thay đổi theo F.Boa, ý nghĩa văn hoá đƣợc quy định do khung giải thích riêng chứ không phải bắt nguồn từ cứ liệu cao siêu nhƣ “trí lực”, vì thế sự khác nhau về mặt văn hoá từng dân tộc cũng không phải theo tiêu chuẩn trí lực. Đó cũng là “tƣơng đối luận của văn hoá”.
Văn hoá không xét ở mức độ thấp cao mà ở góc độ khác biệt. Sinh viên: Trần Xuân Hằng - Lớp: VHL 201 9 Tìm hiểu một số di tích thờ Trần Hưng Đạo ở Hải Phòng A.Kluckhohn quan niệm: “Văn hoá là loại hành vi rõ ràng và ám thị đã đƣợc đúc kết và truyền lại bằng biểu tƣợng, và nó là thành quả độc đáo của nhân loại khác với loại hình khác, trong đó bao gồm cả đồ tạo tác do con ngƣời làm ra”. Văn hoá không phải là cụ thể một cái gì cả, không phải là phong tục tập quán hay tôn giáo tín ngƣỡng. Văn hoá cũng không phải là các kĩ thuật sản xuất, văn hoá cũng không phải là các hoạt động chính trị, xã hội.
Văn hoá cũng không phải những vật chất thƣờng có nhƣ ăn uống, quần áo, nhà cửa mà văn hoá chính là dấu ấn của một cộng đồng lên mọi hiện tƣợng tinh thần vật chất của cộng đồng đó. Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Vì lẽ sinh tồn cũng nhƣ mục đích của cuộc sống, loài ngƣời mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở và cá nhân phƣơng thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá”.TSKH Trần Ngọc Thêm “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ có giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tƣơng tác giữa con ngƣời với môi trƣờng tự nhiên và xã hội của mình”. Định nghĩa này đã nêu bật bốn đặc trƣng quan trọng của văn hoá: tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử, tính nhân sinh.
Văn hoá là một quá trình hoạt động của con ngƣời tự do, biến đổi thế giới tự nhiên thành thế giới tự nhiên thứ hai có cấu trúc cao hơn và có dấu ấn ngƣời (có tính ngƣời). Trong qúa trình đó con ngƣời hình thành cái thiên nhiên bên trong của chính mình (cảnh quan nội tại của chính mình), đồng thời thể hiện thái độ (ứng xử) với thiên nhiên thứ nhất lẫn thiên nhiên thứ hai và ứng xử đối với chính mình.3 Mối quan hệ giữa du lịch và văn hoá 1.