Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, vương triều nhà Trần (thế kỷ XIII – XIV) đã lập nên những chiến công hiển hách khi ba lần lãnh đạo quân dân Đại Việt đánh bại các đạo quân xâm lược Nguyên – Mông. Đóng vai trò linh hồn trong những thắng lợi chiến lược đó là Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Với phẩm chất trung quân ái quốc, tài năng quân sự và đức độ cứu dân giúp nước, ông được nhân dân tôn vinh là bậc Thánh linh thiêng – Đức Thánh Trần – và được phụng thờ ở khắp các địa phương trên cả nước theo truyền thống "sinh vi tướng, tử vi thần".

Thành phố Hải Phòng là địa bàn gắn liền trực tiếp với các chiến dịch quân sự trọng yếu thời Trần, tiêu biểu là chiến thắng trên sông Bạch Đằng năm 1288. Nơi đây hiện lưu giữ một hệ thống di tích lịch sử – văn hóa thờ Trần Hưng Đạo phong phú, gồm đình, đền, chùa, miếu với giá trị lịch sử, kiến trúc nghệ thuật và sinh hoạt lễ hội truyền thống đặc sắc. Tuy nhiên, việc bảo tồn các giá trị văn hóa và công tác tổ chức khai thác hệ thống di tích này phục vụ phát triển du lịch tại Hải Phòng vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, chưa phát huy hết tiềm năng của nguồn tài nguyên du lịch nhân văn địa phương. Nhận thức được thực tế này, tác giả Trần Xuân Hằng (sinh viên lớp VHL 201) đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài "Tìm hiểu một số di tích thờ Trần Hưng Đạo ở Hải Phòng".

Mục đích nghiên cứu của khóa luận tập trung vào bốn nhiệm vụ trọng tâm:

  1. Phác họa khái quát về bối cảnh lịch sử hình thành, kiến trúc, hiện vật và lễ hội truyền thống tại các di tích khảo sát.
  2. Xác định và phân tích các giá trị lịch sử – văn hóa tiêu biểu của hệ thống di tích thờ Trần Hưng Đạo tại địa bàn nghiên cứu.
  3. Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác khai thác, quản lý di tích dưới góc độ hoạt động du lịch.
  4. Đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị cụ thể gửi tới chính quyền địa phương, ngành du lịch cùng các đơn vị liên quan nhằm bảo tồn giá trị di sản và thúc đẩy phát triển du lịch bền vững.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa văn hóa và du lịch, tài nguyên du lịch nhân văn; các giá trị văn hóa, kiến trúc nghệ thuật, sinh hoạt lễ hội truyền thống tại các điểm di tích thờ Trần Hưng Đạo; thực trạng hoạt động khai thác du lịch tại Hải Phòng.
  • Phạm vi nghiên cứu: Không gian nghiên cứu tập trung vào các di tích thờ Trần Hưng Đạo tiêu biểu tại thành phố Hải Phòng, bao gồm: Di tích lịch sử – văn hóa Chùa Vẽ, Di tích lịch sử đền Phú Xá (phường Đông Hải I, quận Hải An); Di tích đền Tràng Kênh (thị trấn Minh Đức, huyện Thủy Nguyên); và các di tích thuộc cụm Liên Khê (gồm đền Thụ Khê, chùa Thiểm Khê, chùa Mai Động).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên hệ thống cơ sở lý luận của chuyên ngành Văn hóa học và Du lịch:

  • Khái niệm du lịch và văn hóa: Luận văn tổng hợp các định nghĩa học thuật về du lịch từ các tổ chức và học giả quốc tế (IUOTO năm 1925, Hunziker và Kraff, Picara Edmod, Kaspar, Robert W. R. Brent Ritchie) và Luật Du lịch Việt Nam (năm 2005). Về khái niệm văn hóa, tác giả tiếp cận từ nguồn gốc từ nguyên phương Đông ("văn trị, giáo hóa") và phương Tây (cultus, cultusanimi), kết hợp các quan điểm của E.B. Tylor, F. Boas, A. Kluckhohn, Chủ tịch Hồ Chí Minh và GS. TSKH. Trần Ngọc Thêm với 4 đặc trưng cơ bản (tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử, tính nhân sinh).
  • Mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa và du lịch: Phân tích tác động hai chiều giữa hai lĩnh vực. Du lịch đóng vai trò là phương tiện giao lưu, quảng bá bản sắc và khôi phục truyền thống, nhưng đồng thời tiềm ẩn nguy cơ thương mại hóa, làm sai lệch nghi lễ và hủy hoại di tích nếu khai thác thiếu kiểm soát. Ngược lại, văn hóa là tài nguyên nền tảng, tạo động cơ chuyến đi và định hình nét đặc trưng cho sản phẩm du lịch.
  • Tài nguyên du lịch và phân loại: Khái quát khái niệm tài nguyên du lịch theo Điều 4 Luật Du lịch; phân loại tài nguyên thành tự nhiên (địa hình, khí hậu, thủy văn, sinh vật) và nhân văn (vật thể: di tích lịch sử – văn hóa như đình, đền, chùa, miếu, lăng; phi vật thể: lễ hội, diễn xướng dân gian, phong tục).
  • Lý luận về tín ngưỡng thờ Nhân thần và Đức Thánh Trần: Phân tích cơ chế thần thánh hóa con người trong tâm thức người Việt từ thể xác, linh hồn sang thần linh, khẳng định vị trí tối thượng của Trần Hưng Đạo trong hệ thống Nhân thần và dòng Đạo Nội (Thanh đồng).

Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả phối hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn:

  • Phương pháp thu thập và xử lý thông tin: Tổng hợp tài liệu thư tịch cổ (Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam nhất thống chí, Lịch triều hiến chương loại chí), các văn bản quản lý nhà nước của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hải Phòng, cùng các công trình nghiên cứu đã công bố.
  • Phương pháp xã hội học: Thực hiện phỏng vấn sâu và trao đổi ngắn với đại diện ban quản lý di tích, người dân cư trú xung quanh các điểm di tích và những người tham gia phục vụ lễ hội.
  • Phương pháp khảo sát thực địa: Quan sát trực tiếp cảnh quan, kiến trúc, hiện vật tại các di tích; kết hợp phát bảng hỏi ngẫu nhiên đối với khách du lịch đến tham quan, chiêm bái để ghi nhận phản hồi thực tế.
  • Phương pháp phân tích – tổng hợp: Hệ thống hóa các dữ liệu thu thập được từ lý thuyết và thực địa để đưa ra nhận định, đánh giá và xây dựng các nhóm giải pháp phù hợp.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lí luận chung

Chương đầu tiên của khóa luận tập trung thiết lập khung lý thuyết hoàn chỉnh cho đề tài:

  • Khái niệm và mối quan hệ du lịch – văn hóa: Khẳng định văn hóa vừa là mục tiêu khám phá, vừa là nguồn lực nội sinh để đa dạng hóa sản phẩm du lịch. Tác giả phân tích cụ thể cả mặt tích cực (tăng cường đoàn kết, thúc đẩy bảo tồn, giáo dục truyền thống) lẫn mặt tiêu cực (thương mại hóa lễ hội, xáo trộn lối sống bản địa, xuống cấp di tích do quá tải).
  • Phân loại di tích lịch sử – văn hóa: Trình bày đặc điểm kiến trúc, chức năng của các loại hình thiết chế tôn giáo tín ngưỡng truyền thống:
    • Đình làng: Ngôi nhà chung của cộng đồng với ba chức năng (hành chính, tôn giáo, văn hóa); các kiểu bố cục mặt bằng (chữ "Nhất", chữ "Nhị", chữ "Đinh", chữ "Công").
    • Đền, miếu, nghè, am, quán: Nơi thờ thần linh, thành hoàng và các nhân vật lịch sử được phụng thờ, gắn liền với nghệ thuật chạm khắc, đồ tế tự sơn son thếp vàng.
    • Chùa: Trung tâm sinh hoạt Phật giáo và văn hóa làng xã; cấu trúc không gian qua cổng Tam quan (Không quan, Giả quan, Trung quan), Tiền đường, Thượng điện, nhà Hậu.
    • Lăng: Công trình kiến trúc bậc cao của phần mộ, tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc phong thủy.
  • Cấu trúc và chức năng của lễ hội: Phân tích sự thống nhất hữu cơ giữa hai thành tố: phần Lễ (các nghi thức tôn nghiêm như rước nước, mộc dục, tế gia quan, rước kiệu, tế đại tế, lễ túc trực, lễ hèm) và phần Hội (các hoạt động diễn xướng, trò chơi dân gian). Nêu rõ ba chức năng cơ bản: bảo lưu truyền thống văn hóa lịch sử, tuyên truyền giáo dục và giải trí cộng đồng.
  • Tín ngưỡng thờ Nhân thần: Làm rõ căn nguyên sùng bái con người, đặc biệt là các anh hùng có công đánh giặc cứu nước.

Chương 2: Giá trị văn hoá của một số di tích thờ Trần Hưng Đạo ở Hải Phòng

Chương 2 đi sâu vào khảo sát môi trường địa lý – lịch sử và các giá trị văn hóa cụ thể tại địa bàn Hải Phòng:

  • Môi trường hình thành di tích và bối cảnh địa phương: Trình bày vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế – xã hội của thành phố Hải Phòng. Điểm qua các chương trình liên kết du lịch của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hải Phòng (như tuyến hành lang kinh tế ven biển, Đề án phát triển du lịch Đồ Sơn – sông Đa Độ, nâng cấp hệ thống hạ tầng bến cảng, tàu cao tốc phục vụ tuyến Bến Bính – Đồ Sơn – Cát Bà – Hạ Long).
  • Thân thế, sự nghiệp Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn: Tóm lược dòng dõi họ Trần từ làng Tức Mặc (phủ Thiên Trường); phân tích nhân cách lớn đặt quyền lợi quốc gia lên trên thù nhà; tài năng quân sự xuất chúng qua hai bộ binh thư kinh điển (Binh thư yếu lược, Vạn Kiếp tông bí truyền thư) và tác phẩm Hịch tướng sĩ; tư tưởng giữ nước cốt lõi "Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc".
  • Tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần: Hiện tượng thánh hóa Trần Hưng Đạo trong dân gian thành bậc giáo chủ Đạo Nội, sự kết hợp giữa tín ngưỡng Tứ phủ và nghi thức hầu đồng; các tập tục cầu an, xin ấn, trừ tà ma (ma Phạm Nhan), cầu tự; mạng lưới thờ phụng rộng khắp cả nước (đặc biệt tại Nam Định, Hà Nam, Thái Bình, Hải Dương, TP. Hồ Chí Minh).
  • Khảo cứu chi tiết hệ thống di tích tại Hải Phòng:
    • Đền Phú Xá (phường Đông Hải I, quận Hải An): Xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia ngày 16/11/1988. Đền cách trung tâm thành phố 8km, khuôn viên rộng khoảng 5.500 m2 với bố cục "nội công ngoại quốc" (gồm 5 gian tiền đường, 2 dãy giải vũ, 3 gian cung cấm, thiêu hương). Đền gắn liền với sự tích kho quân lương của quân đội nhà Trần năm 1288 và công lao của nữ tướng hậu cần Bùi Thị Từ Nhiên. Bên cạnh thần chủ Trần Hưng Đạo, đền thờ phối tự đầy đủ gia đình Ngài: Nguyên Từ Quốc Mẫu, bốn người con trai (Hưng Võ Vương Trần Quốc Hiển, Hưng Trí Vương Trần Quốc Nghiễn, Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng, Hưng Hiến Vương Trần Quốc Uy), hai vương cô và phò mã Phạm Ngũ Lão.
    • Chùa Vẽ (phường Đông Hải I, quận Hải An): Nơi lưu truyền sự tích Trần Hưng Đạo lập chiến đồ đánh giặc, có cung thờ Đức Thánh Trần.
    • Đền Tràng Kênh (thị trấn Minh Đức, huyện Thủy Nguyên): Nằm trong quần thể di tích chiến thắng Bạch Đằng.
    • Cụm di tích Liên Khê (huyện Thủy Nguyên): Gồm đền Thụ Khê, chùa Thiểm Khê và chùa Mai Động.
  • Lễ hội truyền thống tại các di tích: Khảo sát các nghi lễ tế tự, rước kiệu và hoạt động hội tại cụm Liên Khê, đền Tràng Kênh, chùa Vẽ và đền Phú Xá vào dịp "xuân thu nhị kỳ", đặc biệt là ngày giỗ Cha (20 tháng Tám âm lịch).

Chương 3: Thực trạng và một số giải pháp, kiến nghị nhằm bảo tồn các giá trị văn hoá, phát triển du lịch tại một số di tích thờ Trần Hưng Đạo ở Hải Phòng

Chương cuối cùng tập trung đánh giá hiện trạng và đề xuất các nhóm giải pháp:

  • Thực trạng hoạt động du lịch:
    • Hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật: Tuyến đường kết nối đến một số di tích ngoại thành còn nhỏ hẹp, thiếu bãi đỗ xe đạt chuẩn, hệ thống dịch vụ bổ trợ và lưu trú du lịch tại điểm còn hạn chế.
    • Khách du lịch: Khách đến di tích chủ yếu mang tính mùa vụ cao vào các dịp đầu năm và ngày hội chính; đa số là khách nội tỉnh và khách hành hương tâm linh, thời gian lưu trú ngắn.
    • Công tác quản lý và nguồn nhân lực: Ban quản lý di tích tại một số điểm cơ sở chủ yếu gồm các cụ cao niên địa phương, nhiệt tình nhưng thiếu nghiệp vụ thuyết minh du lịch chuyên nghiệp; thiếu nhân sự được đào tạo bài bản về hướng dẫn viên văn hóa.
    • Môi trường tự nhiên và xã hội: Cảnh quan tại một số điểm di tích chịu sức ép từ quá trình đô thị hóa, xử lý rác thải mùa lễ hội còn bất cập.
  • Các nhóm giải pháp đề xuất:
    1. Phát triển hạ tầng và cơ sở vật chất: Đầu tư mở rộng đường giao thông tiếp cận, quy hoạch bãi đỗ xe, biển chỉ dẫn và các công trình phụ trợ du lịch hợp vệ sinh.
    2. Bảo vệ, tôn tạo và tu bổ di tích: Thực hiện trùng tu theo đúng Luật Di sản văn hóa, giữ gìn tối đa các yếu tố kiến trúc nguyên gốc, chống xuống cấp và bảo quản hiện vật, sắc phong, văn bia.
    3. Duy trì và chuẩn hóa tổ chức lễ hội: Phục dựng các nghi thức truyền thống chuẩn mực, ngăn chặn các hiện tượng mê tín dị đoan, cờ bạc, chèo kéo khách, bảo đảm vệ sinh môi trường.
    4. Đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực du lịch: Phối hợp với các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn (Đại học Dân lập Hải Phòng, Đại học Hải Phòng, Cao đẳng Nghề Du lịch Hải Phòng) để bồi dưỡng kiến thức văn hóa, ngoại ngữ và kỹ năng thuyết minh cho đội ngũ trực tiếp quản lý di tích.
    5. Quảng bá và kết nối tuyến điểm du lịch: Xây dựng các ấn phẩm, phóng sự truyền hình, trang thông tin điện tử; kết nối các di tích thờ Trần Hưng Đạo thành tour chuyên đề liên hoàn (Chùa Vẽ – Đền Phú Xá – Đền Tràng Kênh – Cụm Liên Khê) và liên kết liên tỉnh với quần thể Yên Tử (Quảng Ninh), Kiếp Bạc (Hải Dương).
    6. Kiến nghị cụ thể: Đề xuất UBND Thành phố Hải Phòng và các ban ngành cấp kinh phí quy hoạch, phân cấp quản lý rõ ràng giữa chính quyền địa phương và ngành chuyên môn.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và hệ thống hóa các dữ liệu lịch sử – văn hóa và đặc điểm hiện trạng của các di tích nghiên cứu tại Hải Phòng:

Di tích Địa điểm hành chính Niên đại / Sự kiện lịch sử liên quan Đặc điểm kiến trúc & Thờ tự tiêu biểu Tình trạng xếp hạng
Đền Phú Xá P. Đông Hải I, Q. Hải An Dựng năm 1300, gắn với kho lương Bạch Đằng (1288) và nữ tướng Bùi Thị Từ Nhiên Diện tích ~5.500 m2, bố cục "nội công ngoại quốc"; thờ Trần Hưng Đạo, phu nhân, 4 vương tử, 2 vương cô, Phạm Ngũ Lão Di tích quốc gia (16/11/1988)
Chùa Vẽ P. Đông Hải I, Q. Hải An Nơi lập chiến đồ kháng chiến chống quân Nguyên – Mông Cấu trúc chùa làng truyền thống kết hợp cung thờ "Đức Thánh Trần" Di tích lịch sử – văn hóa
Đền Tràng Kênh TT. Minh Đức, H. Thủy Nguyên Chiến trường Bạch Đằng lịch sử năm 1288 Quần thể không gian văn hóa tâm linh ven sông núi Tràng Kênh Di tích lịch sử – danh thắng
Cụm Liên Khê Xã Liên Khê, H. Thủy Nguyên Hệ thống căn cứ, đồn trại phòng tuyến thời Trần Gồm đền Thụ Khê, chùa Thiểm Khê, chùa Mai Động; lưu giữ nhiều thần tích triều Trần Di tích lịch sử cấp thành phố / quốc gia

Khóa luận đóng góp về mặt thực tiễn khi cung cấp bức tranh toàn diện về hệ thống di tích thờ Đức Thánh Trần tại địa bàn Hải Phòng. Không chỉ dừng lại ở góc độ khảo tả di tích, công trình đã liên kết giá trị di sản văn hóa với kinh tế du lịch, chỉ ra những điểm nghẽn trong quản lý, hạ tầng và nhân lực, từ đó đưa ra các kiến nghị có tính khả thi đối với các nhà quản lý văn hóa và doanh nghiệp lữ hành địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát thực địa của khóa luận tập trung chủ yếu vào các di tích tiêu biểu tại quận Hải An và huyện Thủy Nguyên, chưa bao quát toàn bộ các đền, đình, miếu có thờ phối tự Trần Hưng Đạo ở các quận, huyện khác trên địa bàn Hải Phòng. Dữ liệu khảo sát xã hội học bằng bảng hỏi đối với du khách còn ở quy mô ngẫu nhiên, chưa tiến hành phân tích định lượng chuyên sâu với mẫu lớn.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi kiểm kê, nghiên cứu toàn diện tất cả các điểm di tích và địa danh gắn với vương triều nhà Trần trên địa bàn toàn thành phố Hải Phòng.
    • Xây dựng mô hình chuỗi sản phẩm du lịch di sản liên tỉnh, kết nối đồng bộ hệ thống di tích chiến thắng Bạch Đằng tại Hải Phòng với các di tích thời Trần tại tỉnh Quảng Ninh và tỉnh Hải Dương.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích dành cho:

  • Sinh viên, học viên và giảng viên thuộc các ngành Văn hóa học, Du lịch, Quản lý văn hóa, Việt Nam học và Lịch sử địa phương khi tìm kiếm tư liệu về di sản văn hóa thời Trần tại vùng duyên hải Bắc Bộ.
  • Cán bộ quản lý văn hóa và chính quyền cơ sở tại Hải Phòng trong công tác lập quy hoạch bảo tồn, trùng tu di tích và chuẩn hóa công tác tổ chức lễ hội truyền thống.
  • Các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành nghiên cứu xây dựng các tour du lịch văn hóa – tâm linh, tour học tập trải nghiệm lịch sử dành cho học sinh, sinh viên và du khách thập phương.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận tập trung khảo sát những di tích thờ Trần Hưng Đạo tiêu biểu nào tại thành phố Hải Phòng?
Khóa luận khảo sát sâu các di tích trọng điểm gồm: Di tích lịch sử đền Phú Xá, di tích Chùa Vẽ (thuộc phường Đông Hải I, quận Hải An); di tích đền Tràng Kênh (thị trấn Minh Đức, huyện Thủy Nguyên); và các di tích thuộc cụm Liên Khê (đền Thụ Khê, chùa Thiểm Khê, chùa Mai Động thuộc huyện Thủy Nguyên).

2. Đền Phú Xá có những giá trị lịch sử và cấu trúc thờ tự đặc thù nào?
Đền Phú Xá gắn liền với dấu tích kho quân lương phục vụ chiến dịch Bạch Đằng năm 1288 và phối thờ bà Bùi Thị Từ Nhiên (người giữ trọng trách cung cấp hậu cần). Đền có diện tích khoảng 5.500 m2 theo cấu trúc "nội công ngoại quốc", được xếp hạng di tích quốc gia năm 1988, thờ Trần Hưng Đạo cùng hệ thống tôn thất Trần triều hoàn chỉnh (Nguyên Từ Quốc Mẫu, 4 hoàng nam, 2 vương cô và phò mã Phạm Ngũ Lão).

3. Khóa luận tiếp cận tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần dưới những khía cạnh lý luận nào?
Khóa luận làm rõ sự tích hợp giữa nhân vật lịch sử và hiện tượng thánh hóa trong dân gian: Trần Hưng Đạo được tôn xưng là bậc Thánh tối cao, là giáo chủ Đạo Nội (Thanh đồng), phối tự trong hệ thống Tứ phủ, gắn với các nghi thức hầu Thánh, lễ trừ tà ma, xin ấn may mắn và cầu tự.

4. Những nhóm giải pháp chính được tác giả đề xuất để phát triển du lịch tại các di tích là gì?
Tác giả đề xuất 6 nhóm giải pháp: phát triển cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật; bảo vệ, tôn tạo di tích đúng quy chuẩn; duy trì và chuẩn hóa tổ chức lễ hội truyền thống; đào tạo nguồn nhân lực quản lý và thuyết minh; xây dựng chiến lược quảng bá - kết nối tour tuyến liên hoàn; cùng các kiến nghị quản lý cụ thể tới UBND Thành phố và ngành du lịch Hải Phòng.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Trần Xuân Hằng đã phân tích và làm sáng tỏ hệ thống giá trị lịch sử, kiến trúc và tín ngưỡng của các di tích thờ Trần Hưng Đạo tại Hải Phòng. Qua việc khảo sát thực địa tại các điểm di tích tiêu biểu như đền Phú Xá, chùa Vẽ, đền Tràng Kênh và cụm Liên Khê, công trình đã phản ánh chân thực thực trạng công tác quản lý và khai thác du lịch tại địa phương. Các giải pháp và kiến nghị được đề xuất trong khóa luận mang tính hệ thống, góp phần định hướng cho việc bảo tồn di sản gắn với phát triển du lịch bền vững tại thành phố cảng Hải Phòng.