Chương 1: Một số vấn dé lí luận về liêm chính va minh bach trong thực thi công vụ thời kì Lê Sơ 1. Cơ sở hình thành liêm chính và minh bạch trong thực thi công vụ thời kì Lê Sơ 1. Nho giáo Nho giáo là hệ thống các quan điểm chính trị pháp lý và đạo đức ra đời vào thế ki VII TCN ở Trung Quốc. Tư tưởng nồi tiếng này được khởi xướng bởi Không Tử vào thời Xuân Thu, được bổ sung bởi người học trò Mạnh Tử vào thời Chiến Quốc và được hoàn thiện cuối cùng vào thời nhà Hán bởi Đồng Trọng Thư.
Tôn tại song hành cùng với nhiều trường phải tư tưởng khác như Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo càng ngày càng hoàn thiện các quan điểm, nội dung về chính trị, xã hội, dao đức dé khẳng định vị thế, chỗ đứng vững chắc của mình trong xã hội Trung Quốc và là đường lối trị nước của nhiều triều đại trong lịch sử Trung Hoa. Do dòng chảy của lịch sử, tư tưởng Nho giáo du nhập vào nước ta, dần dần có chỗ đứng trong xã hội và rồi trở thành hệ tư tưởng cơ bản của nhà nước phong kiến Đại Việt vào thé ki XV. Triều Lê sơ đã lấy Nho giáo làm hệ tư tưởng chính dé xây dựng các thé chế chính trị và luật pháp, đường lối tri nước. Nho giáo đặc biệt coi trọng đạo đức của một người quân tử với năm đức tính cần có gồm Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín (hay còn gọi là Ngũ thường).
Trong các đức tính đó, Nhân là tiêu chí đạo đức cao nhất và là cái gốc của các đức khác. Đức Nhân có thê được hiểu theo hai nghĩa. Đối với bản thân, con người cần tu thân, dưỡng tính, độ lượng khoan dung, có đức tin lòng thành và siéng năng cần man. Tu thân là van dé cấp thiết đặt ra dé quay về với đức Nhân, duy trì bản tính thiện của con người.
Trong việc tu thân, dưỡng tính thì một trong những phẩm chất quan trọng cần tu thân để hướng tới là Liêm. Liêm có nghĩa là thanh liêm, liêm khiết. Một người liêm khiết luôn luôn giữ cho nhân cách mình được vẹn toàn thanh danh mình được trọn vẹn, không lợi dụng địa vị mình để chiếm công vi tư, để bóc lột những nhiễu đồng loại. Sách Chu Quan xưa đã dùng chữ Liêm để bao quát mọi đức tính của một người đứng ra đảm 7 đương công vụ.
Trong cuốn Từ thụ yếu quy của Dang Huy Trứ đã phân tích cụ thé những biểu hiện của đức Liêm. Ông nói: “Đối với của mang đến thì thu tâm mà ứng xử. Có thé nhận thì nhận không thé nhận thì dứt khoát từ chối. Nhận hay không nhận thi trong bụng đã có nguyên tắc định trước rồi.
Nhận theo diéu nghĩa, lấy diéu tiết kiệm mà giữ mình, giữ mình ở khoáng không đục không trong, tiêu dùng thi không hoang cũng không bủn xin, như vậy là được. Nếu bảo phải thanh liêm hoàn toàn thì cái khí tiết gian khổ dy khó lâu bên được. Từ các quan điểm về đức Nhân và Liêm thì một công bộc quốc gia liêm chính phải: có đức, có tài, biết kính trọng nghề nghiệp, vui vẻ với mọi người, công chính vô tư, biết lễ, biết phép, biết hay đở phải trái, tóm lại một người liêm chính là một người tài đức xứng với danh vị của mình, với chức tước, phận vị của mình?. Như Khổng Tử và Mạnh Tử có nói: “Người mà không liêm, không bằng súc vật”; “Ai cũng tham lợi, thì nước sẽ nguy ”5.
Dưới góc độ là quan hệ giữa bản thân với những người khác trong xã hội, Nhân là là yêu thương, giúp đỡ, cứu vớt mọi người. Lễ cũng luôn gắn liền với Nhân ở điểm con người phải biết kiềm ché, khắc chế bản thân trước các dục vọng và điều chỉnh bản thân trong quan hệ giữa người với người. Nhân còn gắn liền với Nghĩa. Nghĩa là việc nên làm hay việc phải làm theo đúng lẽ phải, đạo lý, lương tâm và bốn phận.
Một điều kiện quan trọng nữa là cần có Trí, là sự hiểu biết của con người về thế giới xung quanh; phân biệt một cách đúng và rõ điều phải - trái, đúng - sai. Người có Nhân sẽ phải có Trí, vì có sáng suốt mới biết cách giúp người mà không hại cho người, cho mình; mới biết phân biệt người chính trực và kẻ bat liêm, biết trọng dụng hiền tài và không bị che lắp bởi những điều không tốt. Đề có Trí, Nho giáo khuyên con người cần phải học tập dé hoàn thiện sự hiểu biết và nhân cách của bản thân, dé quay về với đức Nhân. Do vậy khi kết hợp với việc tu thân, giáo hoá đức Nhân, việc đào tạo ra những người có cả tài-đức va dùng các tam gương dé cảm hoá con người là một việc quan trọng.
Tín là đức tính thứ năm trong Ngũ thường, có nghĩa là lời nói và việc làm phải thống nhất với nhau, là lòng tin của ? Nguyễn Văn Thọ, Lé-Nghia-Liém-Si, http://hocthuatphuongdong.0, truy cập ngày 04/3/2023. 3 Dẫn theo Nguyễn Thanh Tú, Người lãnh đạo và bài học tu dưỡng, tránh cám dỗ, https://haugiang.vn/web/van-phong-hdnd-tinh/xem-chi-tiet/-/tin-tuc/Nguoi-lanh-ao-va-bai-hoc-tu-duong-- tranh-cam-do34304, truy cap ngay 21/3/2023 8 con người với nhau. Mối quan hệ giữa người với người trong xã hội được Nho giáo giải thích bằng mối quan hệ Ngũ luân, gồm: vua — tôi, cha — con, chồng — vợ, anh — em, bạn — ban. Trong phạm vi quốc gia, mối quan hệ vua tôi được đặt lên trên đầu bởi đây là mối quan hệ ảnh hưởng đến sự tôn vong của một quốc gia, dân tộc.
Theo quan điểm của Nho giáo, vua hiển thì tôi trung, nếu “Vua xem bê tôi như tay chân, thì bê tôi xem vua như bụng như lòng; vua xem bê tôi như chó như ngựa, thì bê tôi xem vua như người la trong HƯỚC; vua xem bê tôi như đất như cỏ, thì bê tôi xem vua như giặc như thù ”Š. Mỗi quan hệ này cũng mang tính hai chiều, vua muốn nhận được sự trung thành của bề tôi hay không thì vua trước tiên cũng cần phải là một vị vua anh minh. Mối quan hệ này cũng cho chúng ta phần nào thấy được trách nhiệm của quan lại với nhà vua nhưng cũng đặt ra yêu cau là người trị vì phải có các chính sách quản lý và đãi ngộ hợp lí đối với quan lại. Bên cạnh trách nhiệm minh trung với nhà vua, quan lại cần có trách nhiệm với dân.
Sách Trung dung có viết: “#gười lãnh dao dân chủng có tài đức thì đất nước mau hương thịnh, cũng như đất màu mỡ thì cây cối mau tươi tốt. Việc chính sự phát triển nhanh như cây lau, cây sậy. Vi vậy, thi hành biện pháp trị nước, cốt ở con người ”5. Do đó, lựa chọn người hiền tải giúp nước chính là mau chốt của việc trị nước yên dân.
Vì lẽ đó, quan lại khi gánh vác việc nước cần phải ban ân huệ cho dân; không có lòng tham; không kiêu căng; giữ sự uy nghiêm; không so đo, bun xin với dân”; hiểu rộng, biết nhiều, làm được nhiều việcŸ. Mặt khác, Nho giáo chủ trương sử dụng “Đức trị” trong quản lý đất nước. Không Tử không chủ trương dùng hình pháp dé cai trị dân chúng mà té chỉnh, uốn nắn dân băng đạo đức, đưa dân vào khuôn phép bằng lễ. Cơ sở dé thực hiện Đức trị đó là Chính danh, tức là làm cho mọi việc ngay thắng.
Theo Không Tử chính danh là điểm mau 4 Dẫn theo Phạm Thị Thu Hiền, Dao đức công vụ ở Việt Nam thời phong kiến triều Nguyễn (1802 - 1884) và những giá trị kế thừa, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, 2021, tr. 21 5 Trần Trọng Kim, Nho giáo, NXB Văn hoá — thông tin, Hà Nội, 2008, tr. 237-238 5 Dương Hồng, Vuong Thành Trung. Nhiệm Đại Viện, Luu Phong, 7 thu, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2003, tr.
7 Dẫn theo Phạm Thị Thu Hiền, Đạo đức công vụ ở Việt Nam thời phong kiến triều Nguyễn (1802 - 1884) và những giá trị kế thừa, tldd, tr. 25 8 Hàn Phi, Han Phi Tử, Nxb Van hoc, Hà Nội, 2005, tr. 9 chốt để đưa xã hội trở nên trật tự, nền nẾp. Nhưng để có chính danh, mỗi người phải thực hiện đúng danh phận của mình không lạm quyên, ai ở vị trí nào cũng phải làm tròn trách nhiệm, bổn phận của mình ở các cương vị đó theo thang bậc.
Như vậy, quan lại phải thi hành phận sự đúng với dia vi cua mình, là người làm quan cương vi nào thì để tâm lo toan làm tròn trách nhiệm trên cương vị ấy, không suy nghĩ vượt quá phạm vi chức vụ của minh. Một xã hội có chính danh là một xã hội có trật tự kỷ cương, thái bình, thịnh tri’. Như vậy, tài — đức là tiêu chí, là tiêu chuẩn quan trọng hàng dau dé các nhà nước phong kiến xây dựng đội ngũ quan lại. Đặc biệt là triều Lê sơ lấy tư tưởng Nho giáo làm nền tang cho việc xây dựng thé chế chính trị, xây dựng đường lối và phương thức cai trị ngoại Nho - nội pháp, thực hiện việc tuyên chọn và sử dụng quan lại có sự thanh liêm, chính trực và minh bạch, đem lại hiệu quả cao trong quản lí đất nước.
Pháp trị Nếu như Nho giáo dé cao đường lối Đức trị, đạo đức hơn và đặt tài, đức lên trên địa vị và uy quyên dé tránh làm hại dân; thì tư tưởng Pháp trị chủ trương trong việc trị nước, pháp luật là yếu tố quyết định. Hàn Phi đã khăng định: “Không có nước nào luôn mạnh, cũng không có nước nào luôn yếu, hé những người thi hành pháp luật mạnh thì nước mạnh, còn hé những người thi hành pháp luật yếu thì nước yếu ”19, Đồng thời, Hàn Phi khang định pháp luật được ban hành bởi nhà vua và được công khai tới tất cả mọi người và bắt buộc phải tuân theo. Như vậy, Pháp trị đã tuyệt đối hoá pháp luật, đó là công cụ dé đề cao cũng như đảm bảo quyên lực địa vị của nhà vua trong cai trị và quan lý quan lại và đời sông bách tính. Bên cạnh đó, thưởng và phạt là hai biện pháp hữu hiệu của việc sử dụng pháp luật trong Pháp trị.
Căn cứ quyết định thưởng phạt theo Pháp trị là: “Bay ứôi trình bày lời nói của họ, còn nhà vua thì dựa vào lời nói dé giao việc, giao việc thì yêu cẩu phải có kết quả. Nếu kết quả phù hợp với việc làm, việc làm phù hợp với lời nói thì thưởng. Nếu kết quả không phù hợp với việc làm, việc làm không phù hợp lời nói thì trừng phạt. Nếu như phạt dé ran ° Nguyễn Thi Thủy, Tim hiểu học thuyết chính danh của Không Tử, http://tctph.
php ?name= Noisan&id=32, truy cập ngày 06/3/2023.