CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan tài liệu 1. Nghiên cứu chung về làng xã vùng nông thôn châu thổ sông Hồng Nghiên cứu về làng xã Việt Nam nói chung thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước. Từ những năm cuối thế kỷ XIX, sau khi xâm lược và thiết lập bộ máy cai trị trên toàn lãnh thổ Việt Nam, người Pháp tiến hành nghiên cứu làng xã người Việt nhằm phục vụ cho thiết lập bộ máy cai trị. Đáng chú ý là cuốn La Commune Annamite au Tonkin (Làng xã An Nam ở Bắc Kỳ) của P.
Từ đầu thế kỷ XX đến năm 1954, nghiên cứu làng xã thu hút đông đảo các nhà nghiên cứu cả người Việt và người Pháp. Những kết quả nghiên cứu này rất khác nhau, thậm chí mâu thuẫn do quan niệm và cách tiếp cận của từng tác giả. Ngô Tất Tố với Việc làng, Hoàng Đạo với Bùn lầy nước đọng nêu lên những mặt lạc hậu, thủ cựu, thậm chí cần phải đổi thay trong nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. Phan Kế Bính với Việt Nam phong tục nêu lên những giá trị văn hóa lễ hội, quan hệ họ hàng tốt đẹp mà làng xã đang lưu giữ.
Qua Ninh - Vân Đình với quan điểm Mác xít phân tích trong Vấn đề dân cày tình trạng khốn khổ của người nông dân dưới ách áp bức, bóc lột của chế độ thực dân, phong kiến [10]. Một số tác giả nghiên cứu các khía cạnh kinh tế của làng xã như L’artisanat dans la province de Hadong (Ngành nghề thủ công trong tỉnh Hà Đông (Bắc Kỳ), Les marchés de la province de Hadong, L’artisanat dans la province de Hadong (Tonkin), (Thủ công nghiệp trong tỉnh Hà Đông) của Hoàng Trong Phu1. Vũ Văn Hiền với Proprieté Communale au Tonkin (Sở hữu làng xã ở Bắc Kỳ), Vũ Quốc Thúc với L’Economic Communaliste du Vietnam (Kinh tế làng xã Việt Nam, Hà Nội, 1951). Đáng chú ý trong giai đoạn này nhiều công trình có giá trị cao như Pierre Gourou với cuốn Les Paysans du Delta Tonkinois (Paris, 1936) [31].
Xuất phát từ điều kiện tự nhiên, P.Gourou phân tích các đặc trưng có tính vùng miền của làng xã người Việt ở châu thổ sông Hồng, cũng như hoạt động sản xuất của người nông dân. Dựa trên các số liệu điều tra thống kê, công trình của P.Gourou có độ chính xác cao về thực trạng khu vực châu thổ sông Hồng. Nguyễn Văn Huyên là tác giả có nhiều 1 Hoàng Trọng Phu: L’artisanat dans la province de Hadong, Hanoi, IDEO, 1937; Les marchés de la province de Hadong, Hanoi, 1938; L’artisanat dans la province de Hadong (Tonkin), Hanoi, 1938. Tài liệu dịch của Nguyễn Thừa Hỷ (chưa công bố).
18 z đóng góp về vấn đề nông thôn, cư dân đồng bằng Bắc Bộ. Trong Văn minh Việt Nam (Hà Nội, 1944), Nguyễn Văn Huyên phân tích xác đáng mối quan hệ của gia đình - làng - nước trong xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám [38]. Từ năm 1954 đến năm 1986, nghiên cứu về nông thôn, làng xã, nông dân tiếp tục nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, phục vụ công cuộc xây dựng nông thôn dưới chế độ mới. Ở miền Bắc, từ quan điểm tiếp cận mácxit, xuất phát từ vai trò động lực cách mạng của giai cấp nông dân, các nghiên cứu tập trung làm rõ những giá trị tích cực của giai cấp nông dân, vai trò của làng xã trong lịch sử cũng như trong các cuộc kháng chiến.
Kết quả nghiên cứu đáng chú ý là cuốn Xã thôn Việt Nam của Nguyễn Hồng Phong (Hà Nội, 1959), Nông thôn Việt Nam trong lịch sử (2 tập), Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ của Trần Từ. Ở miền Nam, thành tựu cơ bản nghiên cứu nông thôn là về các giá trị văn hóa của châu thổ sông Hồng, nổi bật là Toan Ánh với cụm công trình về văn hóa Việt Nam1. Từ sau năm 1986, các công trình nghiên cứu về nông thôn, nông nghiệp, nông dân được đẩy mạnh. Hội thảo Làng xã và vấn đề xây dựng nông thôn mới của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội tổ chức năm 1986 đã kết hợp giữa kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học với thực tiễn quản lý đã gắn nghiên cứu với thực tiễn, trả lời cho câu hỏi vai trò, vị trí của làng xã, của nông thôn, nông nghiệp.
trong sự nghiệp Đổi mới2. Một số kết quả nghiên cứu tiêu biểu về làng xã thời kỳ này có thể kể đến Về một số làng buôn ở đồng bằng Bắc Bộ thế kỷ XVIII, XIX (Hội Sử học Việt Nam, H.1993), Một số vấn đề làng xã Việt Nam (NXB ĐHQGHN, Hà Nội, 2009), Nông thôn và đô thị Việt Nam: Lịch sử, thực trạng và khuynh hướng biến đổi (NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2018) của Nguyễn Quang Ngọc, Một làng Việt cổ truyền ở đồng bằng Bắc Bộ (NXB Khoa học xã hội, H.1996) của Nguyễn Hải Kế, Tìm hiểu làng Việt I (NXB Khoa học xã hội, H.1990) do Diệp Đình Hoa chủ biên, Làng xã Việt Nam, một số vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội (NXB Chính trị Quốc gia, H.2001), Từ làng đến nước - một cách tiếp cận lịch sử (NXB ĐHQGHN, H.2010) của Phan Đại Doãn, Làng xã Việt Nam trong kháng chiến chống ngoại xâm (từ thế kỷ X đến cuối thế kỷ XIX) của Viện Lịch sử quân sự (NXB Quân đội nhân dân, H.2006), Văn bia thời Lê xứ Kinh Bắc và sự phản ánh sinh hoạt làng xã (NXB Văn hóa thông tin, H.2003) của Phạm Thị Thùy Vinh. Cùng với những công trình tổng hợp thì một số công trình khảo tả cụ thể về từng làng cung cấp cái nhìn đa chiều về làng xã như Làng Chương Dương qua di sản Hán Nôm của Chu Huy, Cung Khắc Lược, Nguyễn Trọng Hải (NXB Văn hóa dân tộc, H.2004), Tìm lại làng Việt xưa của Vũ Duy Mền (NXB Văn 1 Cụm các công trình của Toan Ánh về văn hóa đồng bằng Bắc Bộ có tên chung là Nếp cũ, bao gồm: Hội hè đình đám (2 quyển Thượng, Hạ), Tín ngưỡng Việt Nam (2 quyển Thượng, Hạ), Hương nước hồn quê, Các thú tiêu khiển Việt Nam…, tái bản, Nxb. Hồ Chí Minh, 2008 2 Một số tham luận của hội thảo được in trong Tạp chí Khoa học, Khoa học xã hội, Trường Đại học tổng hợp Hà Nội, số 1, 1987 19 z hóa thông tin, H.2006), Hành trình về làng Việt cổ (T.1, NXB Từ điển Bách khoa, H.2, NXB Văn hóa thông tin & Viện Văn hóa, H.2013) của Bùi Xuân Đính.
Nghiên cứu về làng xã, nông thôn, nông nghiệp và nông dân trong lịch sử góp phần lý giải quá trình phát triển, cơ chế quản lý, vận hành của của làng xã. Thống kê thư mục về làng xã Việt Nam của chúng tôi năm 2006 với 449 công trình nghiên cứu, trong đó có 416/449 là các nghiên cứu của các học giả Việt Nam (chiếm 92,6%). Các vấn đề được quan tâm rất đa dạng trên các lĩnh vực, như ruộng đất (78/449 công trình, chiếm 17,3%), văn hóa làng xã (54/449 công trình, chiếm 12%), quản lí làng xã (32/449 công trình, chiếm 7,1%)… cho thấy sức hấp dẫn của đề tài này [59]. Thành tựu nghiên cứu và làng xã, nông thôn, nông nghiệp Việt Nam trong lịch sử rất lớn, được GS Phan Huy Lê tổng kết trong bài viết Tình hình nghiên cứu làng ở Việt Nam trong thế kỷ XX với các nội dung về tầm quan trọng và lịch sử nghiên cứu, lịch sử hình thành và phát triển, chế độ ruộng đất và kết cấu kinh tế xã hội, bộ máy quản lý, đời sống văn hóa tín ngưỡng và những biến đổi hiện nay [56, tr.
Nghiên cứu nông thôn châu thổ sông Hồng, vì thế đạt được nhiều tiến bộ quan trọng, là cơ sở quan trọng để Đảng, nhà nước ban hành các Nghị quyết về phát triển kinh tế, xã hội trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và nông dân. Làng xã khu vực nông thôn châu thổ sông Hồng cũng là đề tài thu hút nhiều học giả nước ngoài quan tâm nghiên cứu. Có thể kể đến Jame Scott (1976) với The Moral Economy of the Peasant: Rebellion and Subsistence in Southeast Asia: Samuel Popkin (1976), The Rational Peasant: The Political Economy of Rural Society in Vietnam; Sakurai Yumio (1987), The formation of the Vietnamese village, Tokyo; Luong Van Hy (1992), Revolution in the Village, University of Hawaii Press; B.Kerkvliet (1990), State-village relation in VietNam: contested cooperation and collectivization, Australia; John Kleinen (1999): Facing the Future, Reviving the Past: A Study of Social Change in a Northern Vietnamese Village Institute of Southeast Asia, Singapore (Bản dịch tiếng Việt: Làng Việt đối diện tương lai, hồi sinh quá khứ, Hội KHLS Việt Nam, Nxb Đà Nẵng, 2013); Nguyễn Tùng (Édité) (1999), Mông Phụ, un village du delta du Fleuve Rouge (Việt Nam), L’Harmattan (bản dịch: Mông Phụ - một làng ở đồng bằng sông Hồng (NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2003); Chương trình hợp tác Việt - Pháp nghiên cứu về làng xã Việt Nam vùng đồng bằng sông Hồng (1996-1999) với hai ấn phẩm: Philippe Papin và Olivier Tessier (Chủ biên) (2002), Làng ở vùng châu thổ sông Hồng: Vấn đề còn bỏ ngỏ, Viện Viễn đông bác cổ, Trung tâm KHXH&NV quốc gia, Hà Nội; Pascal Bergeret (2006), Nông dân, nhà nước và thị trường ở Việt Nam (mười năm hợp tác nông nghiệp trong lưu vực sông Hồng), NXB CTQG, Hà Nội. Các khuynh hướng tiếp cận về làng xã khu vực nông thôn của các học giả nước ngoài rất đa dạng: về một làng cụ thể (Nguyễn Tùng, J.Kleinen, Hy Văn 20 z Lương), có tính chất khái quát, tranh luận (J.B) cung cấp một số hướng gợi mở trong nghiên cứu về làng xã nói chung.
Nghiên cứu về tổ chức hành chính và thiết chế quản lý xã hội vùng nông thôn châu thổ sông Hồng Châu thổ sông Hồng là khu vực trung tâm của Đàng Ngoài trong 2 thế kỷ XVII-XVIII nằm trong cơ cấu hành chính chung của chính quyền Đàng Ngoài. Tổ chức hành chính, thiết lập bộ máy quản lý hành chính là cơ sở để chính quyền quản lý, khai thác khu vực châu thổ sông Hồng. Nhóm vấn đề về tổ chức bộ máy hành chính, quan lại, luật pháp và phương thức tuyển dụng nhân sự cho bộ máy hành chính. Một số bài viết đáng chú ý như Nguyễn Đức Nhuệ: Tìm hiểu tổ chức Phiên trong bộ máy Nhà nước thời Lê Trung Hưng (NCLS số 5 (294), IX-X/1997); Nguyễn Văn Kim: Về cơ chế hai chính quyền cùng song song tồn tại trong lịch sử Việt Nam và Nhật Bản (NCLS số 1 (326), I-II/2003), Trần Thị Vinh: Thể chế chính quyền Nhà nước thời Lê-Trịnh: Sản phẩm đặc biệt của lịch sử Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII (NCLS số 1 (332), 2004); Phương thức tuyển dụng quan lại cho bộ máy chính quyền nhà nước ở thế kỷ XVII-XVIII (NCLS số 6 (362), 2006, tr.