Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ Hoa văn trang trí đồ gỗ nội thất thời Nguyễn do nghiên cứu sinh Bùi Trung Dũng thực hiện tại Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam (thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Bộ Giáo dục và Đào tạo), chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật, mã số 9210101, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Văn Đỉnh và TS. Trần Đình Hằng, bảo vệ năm 2024 tại Hà Nội. Luận án có tổng dung lượng 215 trang, gồm 157 trang nội dung chính, 45 trang phụ lục, phần Mở đầu (07 trang), Kết luận (03 trang) và Danh mục tài liệu tham khảo (08 trang).

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng hoa văn trang trí là một bộ phận phản ánh bản sắc văn hóa và thẩm mỹ qua các triều đại lịch sử Việt Nam. Dưới triều Nguyễn (1802 - 1945), nghệ thuật chạm khắc gỗ kế thừa tinh hoa truyền thống điêu khắc đình làng của các thế kỷ trước, phát triển mạnh mẽ và đạt nhiều thành tựu; đồ gỗ nội thất phong phú về kiểu dáng, chạm khắc cầu kỳ, tinh xảo và từng được xuất khẩu sang Trung Quốc, Pháp. Tuy nhiên, các công trình đã công bố phần lớn tập trung vào kiến trúc cung đình, điêu khắc tôn giáo, tín ngưỡng (đình, đền, chùa) hoặc mỹ thuật tổng quát; mảng hoa văn trang trí chuyên biệt trên đồ gỗ nội thất gia dụng vẫn chưa được nghiên cứu một cách chuyên sâu, hệ thống dưới góc độ mỹ thuật tạo hình thủ công mỹ nghệ.

Mục đích nghiên cứu của luận án là tập trung nghiên cứu về nội dung, hình thức và khẳng định những đặc trưng, giá trị văn hóa, lịch sử, nghệ thuật cùng vai trò của hoa văn trang trí đồ gỗ nội thất thời Nguyễn trong quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa với bên ngoài trong khoảng thời gian từ thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX dưới góc độ nghệ thuật tạo hình thủ công mỹ nghệ, góp phần nhìn nhận lại giá trị của các di sản văn hóa thời Nguyễn.

Để hiện thực hóa mục đích trên, luận án xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Khảo sát, thống kê, phân loại các hình thức hoa văn trang trí trên đồ gỗ nội thất thời Nguyễn.
  2. Tìm hiểu nội dung về văn hóa, lịch sử, nghệ thuật, đặc điểm hoa văn trang trí đồ gỗ nội thất thời Nguyễn, sự kế thừa truyền thống và tiếp nhận những yếu tố mới từ phương Tây.
  3. Khẳng định những giá trị nghệ thuật của hoa văn trang trí đồ gỗ nội thất thời Nguyễn, xem xét vai trò của hoa văn trang trí đối với đồ gỗ nội thất thời Nguyễn và tới đồ gỗ nội thất các giai đoạn sau.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu được tác giả đặt ra gồm 3 câu hỏi:

  • Câu hỏi 1: Nội dung và hình thức của hoa văn trang trí đồ gỗ nội thất thời Nguyễn được thể hiện như thế nào?
  • Câu hỏi 2: Hoa văn trang trí đồ gỗ nội thất thời Nguyễn có những đặc trưng gì?
  • Câu hỏi 3: Hoa văn trang trí đồ gỗ nội thất thời Nguyễn có vai trò thế nào đối với mỹ thuật thời Nguyễn và ảnh hưởng của nó tới đồ gỗ nội thất các giai đoạn sau?

Tương ứng với các câu hỏi là 3 giả thuyết nghiên cứu được kiểm chứng:

  • Giả thuyết 1: Hoa văn trang trí đồ gỗ nội thất thời Nguyễn bao gồm những mô típ trang trí quen thuộc: tứ linh, động vật, thực vật, chữ Hán... được tạo hình bằng đường nét tinh xảo, cầu kỳ, bố cục đăng đối, hình khối đa dạng..., các mô típ kết hợp tạo thành các đồ án trang trí có hình thức thể hiện phong phú (chạm khắc, chạm khảm, sơn thếp).
  • Giả thuyết 2: Hoa văn trang trí đồ gỗ nội thất thời Nguyễn thể hiện đặc trưng qua phong cách tạo hình riêng biệt: bố cục trang trí ô hộc, lối tạo hình kiểu thức "hóa"... Những đặc trưng của hoa văn trang trí đồ gỗ nội thất thời Nguyễn là sự tổng hòa của đặc điểm riêng các vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, vùng kinh thành Huế và phụ cận, vùng Tây Nam Bộ trong đó vùng kinh thành Huế giữ vai trò chủ đạo.
  • Giả thuyết 3: Hoa văn trang trí đồ gỗ nội thất thời Nguyễn cùng với hoa văn trang trí kiến trúc, hoa văn trang trí các vật dụng lễ nghi, vật dụng sinh hoạt, hoa văn trên trang phục thể hiện vai trò quan trọng trong nghệ thuật trang trí thời Nguyễn, qua đó đóng góp vào di sản mỹ thuật thời Nguyễn và tạo nên ảnh hưởng sâu rộng tới sự phát triển của đồ gỗ nội thất nói riêng và nghệ thuật trang trí nói chung các giai đoạn sau.

Về đối tượng nghiên cứu, luận án xác định trọng tâm là hoa văn trang trí trên đồ gỗ nội thất nhà ở thời Nguyễn gắn với các không gian sinh hoạt: phòng khách (bàn ghế, tủ, bình phong...), phòng ngủ (giường, sập, tủ...), không gian thờ cúng (bàn thờ, án thư, cửa võng, hoành phi...). Đồ gỗ trang trí kiến trúc, nội thất cung đình và cơ sở tôn giáo chỉ được khảo cứu ở mức độ so sánh, gợi mở.

Về phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi không gian: Tập trung vào hiện vật đồ gỗ nội thất gia đình thời Nguyễn lưu giữ tại các bảo tàng (Bảo tàng Lịch sử quốc gia, Bảo tàng Lịch sử TP. Hồ Chí Minh, Bảo tàng Hà Nội, Bảo tàng Cổ vật cung đình Huế), Cố đô Huế, các nhà vườn ở Huế, nhà cổ miền Tây Nam Bộ (Nhà cổ Bình Thủy tại Cần Thơ, Nhà cổ Huỳnh Thủy Lê tại Sa Đéc - Đồng Tháp, Nhà cổ Trăm cột tại Long An), nhà ở tại làng gốm Bát Tràng và làng cổ Đường Lâm (Hà Nội); đồng thời mở rộng so sánh với hiện vật tiêu biểu tại Trung Hoa và phương Tây.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung khảo sát hiện vật chế tác từ thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, có liên hệ mở rộng trước và sau khung thời gian này khi phân tích tiến trình biến đổi.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả hệ thống hóa tình hình nghiên cứu tiền nhiệm thành 3 nhóm tài liệu chính:

Nhóm 1: Tài liệu về đời sống, lịch sử, thủ công mỹ nghệ chạm khắc gỗ

  • Thư tịch cổ và nghiên cứu trong nước: Các ghi chép trong chính sử và địa chí như Ô Châu cận lục (Dương Văn An), Phủ biên tạp lục (Lê Quý Đôn), Đại Nam thực lục - Chính biên, Đại Nam Nhất thống chí; các công trình của Phan Thuận An về kinh thành Huế, Chu Quang Trứ về mỹ thuật Lý - Trần và nghề chạm khắc cổ truyền; công trình Mỹ thuật Nguyễn (2019) của Nguyễn Hữu Thông phân tích mỹ thuật thời Nguyễn là sự tổng hòa đặc trưng ba miền và ghi nhận ảnh hưởng tích cực từ sự giao lưu văn hóa phương Tây.
  • Tài liệu nước ngoài: Ghi chép của Chu Thuấn Thủy trong Ký sự phục dịch ở An Nam, Thích Đại Sán trong Hải ngoại ký sự; công trình Tâm lý người An Nam (1908) của Paul Giran miêu tả cấu trúc đồ nội thất nhà gianh nghèo (chõng tre, ghế đẩu, tủ đơn sơ) đối lập với nhà giàu (phản gỗ quý, ghế tựa chạm trổ đồ sộ); khảo cứu Nghệ thuật xứ An Nam (L’Art de l’Annam, 1933) của Henri Gourdon mô tả độ tinh xảo của kỹ thuật khảm xà cừ, cành lá uốn lượn, dây nho trên tủ chè, tráp, khay, bàn thờ và cỗ áo quan chạm khắc.

Nhóm 2: Tài liệu về hoa văn trang trí

  • Tác giả trong nước: Công trình Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt (2001) của Trần Lâm Biền đi sâu vào ý nghĩa biểu tượng, chỉ ra hệ thống hoa văn tứ quý ảnh hưởng từ Trung Quốc xuất hiện từ thế kỷ XVII, định hình trong thế kỷ XVIII và phổ biến ở thế kỷ XIX; cuốn Hoa văn Việt Nam từ thời tiền sử đến nửa đầu thời kỳ phong kiến (2003) của Nguyễn Du Chi phân loại hoa văn theo hình dáng và mô típ nhưng mới dừng ở nửa đầu phong kiến; tác phẩm Mỹ thuật Huế nhìn từ góc độ ý nghĩa và biểu tượng trang trí (2001) của Nguyễn Hữu Thông phân tích hệ đề tài (thực vật, động vật, nhân vật, đồ vật, chữ Hán) gắn với chất liệu gỗ, khảm xà cừ, sơn thếp; luận án của Bùi Bá Nguyên Khanh khảo sát hoa văn mỹ thuật cổ trên kiến trúc phong cách Đông Dương ở TP. Hồ Chí Minh.
  • Tác giả nước ngoài: Cuốn Mỹ thuật Huế (L’Art à Hué, 1919) của Léopold Cadière (bản dịch của Lê Đức Quang năm 2019) tập hợp các bản vẽ chi tiết về hoa văn chữ Hán, tĩnh vật, hình học, hoa lá, muông thú; cuốn Nghệ thuật trang trí ở Bắc kỳ (Les Arts décoratifs au Tonkin, 1922) của Marcel Bernanose phân loại hoa văn gắn với chất liệu và công trình kiến trúc; bài viết Vấn đề lý thuyết về hoa văn (2015) của Natalia Kraevskaia bàn luận về tính độc lập nghệ thuật của hoa văn trong mỹ thuật tạo hình và mỹ thuật ứng dụng.

Nhóm 3: Tài liệu chuyên sâu về đồ gỗ nội thất và hoa văn đồ gỗ thời Nguyễn

  • Luận án Phó tiến sĩ Đồ gỗ thời Nguyễn, tàng trữ tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam - TP Hồ Chí Minh (1995) của Trịnh Thị Hòa phân loại đồ gỗ thành 3 nhóm (sinh hoạt, trang trí, thờ cúng), chỉ ra bố cục trang trí ô hộc thời Nguyễn là sự kế thừa và phát triển bố cục đối xứng thời Lý, Trần;
  • Luận án Tiến sĩ Nghệ thuật Trang trí bao lam trong một số chùa Việt tiêu biểu ở Tp Hồ Chí Minh (2018) của Nguyễn Thị Thu Tâm phân tích bao lam như một tác phẩm nghệ thuật độc lập trong không gian nội thất, lý giải sự thoát ly đề tài truyền thống tại Nam Bộ dưới góc nhìn địa - văn hóa;
  • Luận án Nghệ thuật chạm khắc gỗ điện Long An tại cố đô Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (2020) của Nguyễn Thiện Đức làm rõ kỹ thuật chạm khắc nội thất và sự đa dạng của mô típ chữ Hán;
  • Bài báo Nghiên cứu đặc điểm đồ mộc Hoàng cung triều Nguyễn (1802 - 1945) (2018) của Nguyễn Thị Vĩnh Khánh và Nguyễn Trọng Kiên chỉ ra hai phong cách tạo hình: ảnh hưởng đồ gỗ thời Thanh và ảnh hưởng đồ gỗ châu Âu cổ điển;
  • Nguồn ảnh tư liệu cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX: ấn phẩm Early Photography in Vietnam (2020) của Terry Bennett, các bộ ảnh của Pierre Dieulefils (Bộ sưu tập Bắc Kỳ 1880 - 1890’s), Charles-Édouard Hocquard (Một chiến dịch ở Bắc Kỳ) và Émile Gsell.

Bảng tổng hợp dữ liệu khảo sát tư liệu liên quan đến đồ gỗ nội thất từ các công trình tiêu biểu:

Tên công trình / Tác phẩm nghiên cứu Tác giả Năm công bố Tổng số hình ảnh minh họa Số hình ảnh về đồ gỗ nội thất Đặc điểm ghi nhận trong luận án
Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt Trần Lâm Biền 2001 102 ảnh phụ lục 03 ảnh đồ gỗ nội thất (trong 29 ảnh đồ gỗ) Giai đoạn TK XIX - đầu TK XX chiếm 14/102 ảnh; mảng đồ gỗ nội thất chiếm tỷ trọng rất nhỏ
Hoa văn Việt Nam từ thời tiền sử đến nửa đầu phong kiến Nguyễn Du Chi 2003 Nhiều bản vẽ minh họa 0 hình đồ gỗ nội thất (24 hình gỗ kiến trúc) Gián đoạn ở nửa đầu thời kỳ phong kiến, thiếu dữ liệu giai đoạn thế kỷ XVI - đầu thế kỷ XX
Mỹ thuật Huế nhìn từ góc độ ý nghĩa và biểu tượng trang trí Nguyễn Hữu Thông 2001 150 hình ảnh 15 hình hoa văn đồ gỗ nội thất Tập trung phân tích ý nghĩa biểu tượng tại Huế, chưa đi sâu vào bố cục tạo hình
Mỹ thuật Huế (L’Art à Hué) Léopold Cadière 1919 185 hình minh họa 35 hình đồ gỗ nội thất (trong 94 hình chạm gỗ) Phạm vi bó hẹp ở Huế (bán kính 50-60km); chưa phân loại theo chất liệu và kỹ thuật chế tác
Nghệ thuật xứ An Nam (L’Art de l’Annam) Henri Gourdon 1933 21 hình minh họa 04 hình đồ gỗ nội thất Thiên về miêu tả kiểu dáng bằng văn bản (ghế tựa, bàn thờ, tủ chè, cỗ áo quan)
Nghệ thuật trang trí ở Bắc kỳ (Les Arts décoratifs au Tonkin) Marcel Bernanose 1922 112 hình minh họa 21 hình đồ gỗ nội thất Tập trung khảo sát nghề thủ công Bắc Bộ, thiếu sự đối sánh với Nam Bộ

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Phần lớn các tài liệu tiền nhiệm chưa đặt hoa văn trang trí đồ gỗ nội thất làm đối tượng trung tâm; các yếu tố tạo hình, thẩm mỹ chưa được phân tích có hệ thống trong mối liên hệ với không gian nội thất nhà ở; thiếu sự phân tích so sánh liên vùng (Bắc - Trung - Nam) cũng như chưa làm rõ cơ chế tiếp biến văn hóa Đông - Tây trên sản phẩm đồ gỗ thời Nguyễn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng hệ thống khái niệm, lý thuyết và phương pháp luận như sau:

Hệ thống khái niệm và thuật ngữ

  • Hoa văn: hình trang trí được vẽ, chạm, khắc trên các đồ vật (theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên); họa tiết là hình vẽ đã cách điệu dùng để trang trí.
  • Trang trí: việc bố trí các vật thể có hình khối, đường nét, màu sắc hài hòa làm đẹp không gian (Hoàng Phê); nghệ thuật làm đẹp thuộc mỹ thuật ứng dụng (Từ điển thuật ngữ Mỹ thuật phổ thông).
  • Hoa văn trang trí đồ gỗ nội thất: các hình thức trang trí cách điệu hóa được thể hiện qua chạm khắc, khảm, vẽ trên vật dụng bằng gỗ; đảm nhận đồng thời chức năng thẩm mỹ, chức năng thông tin/biểu tượng và chức năng cấu trúc liên kết.
  • Nội thất, Đồ nội thất (Furniture), Đồ gỗ nội thất: các vật dụng bài trí trong không gian phòng khách, phòng ngủ, không gian thờ cúng và làm việc, được chế tác chủ yếu từ chất liệu gỗ (có thể kết hợp đá, kính, đệm da, vải).

Các lý thuyết và khung phân tích

  • Lý thuyết tiếp biến văn hóa (Cultural Acculturation): Vận dụng các luận điểm nhân học phương Tây (Thompson, Từ điển bách khoa văn hóa học) về giao lưu tự nguyện và cưỡng bức. Tác giả áp dụng mô hình chu trình "tiếp nhận - sao chép - cải biến - hoàn chỉnh" để phân tích quá trình người thợ thủ công Việt hóa các mô típ du nhập từ Trung Hoa, Ấn Độ, Chăm, Khmer và phương Tây nhằm xác lập bản sắc thẩm mỹ riêng.
  • Lý thuyết địa - văn hóa (Cultural Geography): Kế thừa tư tưởng của Carl Ortwin Sauer (hình thái học cảnh quan), Julian Haynes Steward (tiến hóa đa tuyến) và Joel Bonnemaison. Luận án lý giải mối quan hệ giữa môi trường tự nhiên, tính cách cư dân với phong cách hoa văn đồ gỗ ở 3 vùng miền: miền Bắc (đậm nét dân gian, chạm khắc chắc khỏe), miền Trung/Huế (tính cách cung đình quý phái, phân tầng thứ bậc, nét chạm mảnh mai) và miền Nam (phóng khoáng, dung hợp, xuất hiện mô típ đặc trưng bản địa như trái khổ qua, con vọt/vát).
  • Luận điểm Hình thái học nghệ thuật: Dựa trên công trình Hình thái học Nghệ thuật của M. Kagan và nghiên cứu của Natalia Kraevskaia để phân định ranh giới giữa nghệ thuật ứng dụng (nghệ thuật kiến trúc tính) và nghệ thuật tạo hình (nghệ thuật không gian), khẳng định hoa văn đồ gỗ nội thất vừa mang tính ứng dụng phụ thuộc công năng vừa có tính độc lập như một tác phẩm tạo hình.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

  • Phương pháp điền dã: Khảo sát thực địa tại Cố đô Huế, các bảo tàng, làng nghề mộc truyền thống (Phù Khê, Đông Giao...) và các di tích nhà cổ; thực hiện quan sát, khảo tả, ghi chép, đo vẽ và chụp ảnh hiện vật.
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu: Khảo cứu nguồn thư tịch cổ, công trình nghiên cứu trong và ngoài nước.
  • Phương pháp thống kê, so sánh: Phân loại hiện vật theo kiểu dáng, chất liệu, kỹ thuật; đối chiếu hoa văn đồ gỗ thời Nguyễn với hoa văn thời Lý, Trần, Lê và hoa văn đồ gỗ thời Minh, Thanh (Trung Quốc), đồ gỗ châu Âu.
  • Phương pháp chuyên gia: Phỏng vấn sâu các nhà nghiên cứu mỹ thuật và nghệ nhân làng nghề chạm khắc gỗ.
  • Phương pháp tiếp cận liên ngành và Phương pháp luận Nghệ thuật học: Kết hợp góc nhìn văn hóa học, lịch sử học với phân tích tạo hình chuyên sâu (đường nét, hình khối, bố cục, màu sắc, chất liệu, kỹ thuật chế tác).

Nguồn tư liệu thực tế của luận án được khai thác trực tiếp từ hiện vật tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia, Bảo tàng Lịch sử TP. Hồ Chí Minh, Bảo tàng Hà Nội, Bảo tàng Cổ vật cung đình Huế; di tích nhà vườn Huế; nhà cổ Bình Thủy (Cần Thơ), nhà cổ Huỳnh Thủy Lê (Đồng Tháp), nhà cổ Trăm cột (Long An); tư gia tại Bát Tràng, Đường Lâm (Hà Nội); cùng hệ thống ảnh tư liệu lịch sử của Bennett, Dieulefils, Hocquard, Gsell.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về đối tượng nghiên cứu

Chương 1 (46 trang) tập trung giải quyết 3 nội dung trọng tâm:

  • Tổng quan tình hình nghiên cứu: Phân tích chi tiết 3 nhóm tài liệu trong và ngoài nước, chỉ rõ những đóng góp và hạn chế của các công trình đi trước, xác lập khoảng trống khoa học của đề tài.
  • Cơ sở lý luận: Xây dựng hệ thống khái niệm công cụ (hoa văn, trang trí, đồ nội thất, đồ gỗ nội thất) và thiết lập 3 trụ cột lý thuyết gồm: Lý thuyết tiếp biến văn hóa, Lý thuyết địa - văn hóa và Luận điểm hình thái học nghệ thuật.
  • Khái quát về đối tượng nghiên cứu: Khảo sát bức tranh nhà ở truyền thống thời Nguyễn, phân loại thành nhóm nhà ở trung lưu trở lên (kết cấu gỗ kiên cố, chạm trổ hoa văn trau chuốt) và nhóm nhà dân nghèo (tre nứa, đồ đạc đơn giản). Luận án xác định đối tượng khảo sát chính nằm ở nhóm nhà ở trung lưu trở lên. Tác giả phân chia đồ gỗ nội thất theo các không gian chức năng: không gian tiếp khách/trưng bày (bàn, ghế, đôn, sập, tủ chè, bình phong), không gian nghỉ ngơi (giường, phản, sập), không gian thờ cúng (bàn thờ, án thờ, tủ thờ, bao lam, hoành phi, câu đối) và không gian làm việc (bàn viết, tủ sách); đồng thời phân tích tính chất đa năng của các hiện vật gỗ trong đời sống gia đình.

Chương 2. Nhận diện hoa văn trang trí đồ gỗ nội thất thời Nguyễn

Chương 2 (48 trang) đi sâu khảo sát, phân loại và nhận diện toàn diện diện mạo hoa văn trên các phương diện mô típ, hình thức nghệ thuật, chất liệu và kỹ thuật:

  • Hệ thống mô típ hoa văn trang trí:
    • Hình tượng con người: thể hiện qua các nhân vật lịch sử, thần thoại, điển tích văn học và hoạt cảnh sinh hoạt.
    • Đồ vật thuộc Bát bửu: bao gồm Bát bửu Phật giáo (bánh xe pháp luân, vỏ ốc, hoa sen, lọng...), Bát bửu Đạo giáo/Cổ đồ (bầu rượu, quạt, kiếm, ống tiêu, khánh, sách, bút...).
    • Sự vật tự nhiên: giới thực vật (bộ tứ quý mai - lan - cúc - trúc; tùng, cúc, trúc, mai; hoa mẫu đơn, hoa sen, quả đào, quả lựu, cành nho lá dắt); giới động vật và tứ linh (long, lân, quy, phụng; các loài thú, chim muông, cá); hiện tượng tự nhiên (mặt trời, vầng mây, sóng nước cuộn, núi non).
    • Chữ Hán dạng cát tường tự: các chữ Phúc (福), Lộc (祿), Thọ (壽), Hỷ/Song Hỷ (囍), Vạn (卍) được biến hóa cao độ theo lối triện thư, thảo thư hoặc kết hợp vào các đồ án hoa lá.
  • Hình thức nghệ thuật của hoa văn: Luận án phân tích cấu trúc bố cục đăng đối, bố cục đường diềm, bố cục tự do và đặc biệt là bố cục phân chia ô hộc; làm rõ tỷ lệ mảng khối, tính nhịp điệu của đường nét uốn lượn mềm mại nhưng cô đọng.
  • Chất liệu và kỹ thuật chế tác:
    • Chất liệu: sử dụng các loại gỗ quý nhóm I (gỗ gụ, mun, trắc, hương, kiền kiền...), kết hợp vật liệu khảm (vỏ trai, xà cừ cửu khổng), sơn then, sơn son, thếp vàng/bạc, cẩm thạch tự nhiên, kính và vải/da.
    • Kỹ thuật chế tác: kỹ thuật chạm khắc gỗ (chạm nổi nhiều lớp, chạm lộng, chạm thủng bong kênh, chạm chìm); kỹ thuật khảm ốc xà cừ (cưa, đục, gắn ốc, mài phẳng); kỹ thuật sơn then đánh bóng và kỹ thuật sơn son thếp vàng truyền thống.

Chương 3. Đặc trưng, giá trị và bàn luận về hoa văn trang trí đồ gỗ nội thất thời Nguyễn

Chương 3 (53 trang) đúc kết các luận điểm phân tích và đánh giá khoa học:

  • Đặc trưng của hoa văn trang trí đồ gỗ nội thất thời Nguyễn:
    1. Kế thừa truyền thống dân tộc và tiếp nhận yếu tố mới từ phương Tây: Kế thừa nghệ thuật điêu khắc gỗ dân gian thời Lê - Trịnh, đồng thời tiếp thu các mô típ hoa văn lan tây (acanthus), cành ô liu, đường nét uốn lượn baroque/rococo phương Tây trên nền chất liệu và kỹ nghệ truyền thống.
    2. Phong cách tạo hình riêng biệt: Định hình phong cách bố cục ô hộc chặt chẽ và lối tạo hình kiểu thức "hóa" (rồng hóa mây, long hóa trúc, phụng hóa mai, nghê hóa cúc...), tạo ra sự chuyển hóa linh hoạt giữa thế giới thần thoại và thế giới tự nhiên.
    3. Sử dụng thủ pháp nghệ thuật đa dạng: Kết hợp nhuần nhuyễn giữa chạm nổi, chạm lộng kênh bong với cẩn xà cừ nhiều màu sắc và kỹ thuật sơn son thếp vàng, tạo hiệu ứng thị giác đa tầng.
  • Giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật:
    • Giá trị lịch sử: Phản ánh tiến trình lịch sử triều Nguyễn, quá trình giao thương quốc tế và sự tiếp biến văn hóa Việt - Pháp cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX.
    • Giá trị văn hóa: Thể hiện nhân sinh quan, tư tưởng tam giáo đồng nguyên (Nho - Phật - Đạo), ước vọng cầu phúc, lộc, thọ, bình an và phản ánh bản sắc thẩm mỹ đặc trưng của cư dân ba miền Bắc - Trung - Nam.
    • Giá trị nghệ thuật: Khẳng định đỉnh cao kỹ nghệ tạo hình thủ công mỹ nghệ gỗ truyền thống Việt Nam thông qua độ tinh xảo, nhịp điệu đường nét và tính cân bằng giữa công năng sử dụng với giá trị thẩm mỹ.
  • Luận bàn khoa học: Hoa văn trang trí đóng vai trò xác lập diện mạo thẩm mỹ đặc trưng cho đồ gỗ nội thất thời Nguyễn, giữ vị trí quan trọng trong dòng chảy mỹ thuật triều Nguyễn và tạo tiền đề ảnh hưởng sâu rộng đến xu hướng chế tác đồ gỗ nội thất trong các giai đoạn lịch sử tiếp theo.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự nêu những đóng góp mới về lý luận và thực tiễn:

  • Đóng góp về mặt lý luận: Là công trình nghiên cứu chuyên biệt, có tính hệ thống đầu tiên về hoa văn trang trí đồ gỗ nội thất thời Nguyễn dưới góc độ lý luận và lịch sử mỹ thuật tạo hình; vận dụng hiệu quả các lý thuyết tiếp biến văn hóa, địa - văn hóa và hình thái học nghệ thuật để giải mã hệ thống mô típ, bố cục ô hộc, thủ pháp "hóa" và sự phân hóa phong cách ba miền.
  • Đóng góp về mặt thực tiễn: Hệ thống hóa khối lượng tư liệu điền dã phong phú về kiểu dáng đồ gỗ nội thất và các đồ án hoa văn từ các bảo tàng, di tích nhà cổ ba miền; cung cấp cơ sở khoa học tin cậy phục vụ công tác giám định, bảo tồn, phục chế, phục dựng di sản đồ gỗ thời Nguyễn; cung cấp tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, đào tạo chuyên ngành mỹ thuật và hoạt động thiết kế nội thất hiện đại.
  • Kiến nghị và giải pháp: Đề xuất tăng cường công tác kiểm kê, số hóa, xây dựng ngân hàng dữ liệu hoa văn đồ gỗ nội thất thời Nguyễn; đẩy mạnh các giải pháp bảo tồn cấp thiết đối với hiện vật đồ gỗ tại các di tích nhà cổ tư nhân; bảo tồn bí quyết kỹ thuật tại các làng nghề chạm khảm truyền thống; đồng thời khuyến khích các nhà thiết kế kế thừa có chọn lọc vốn cổ hoa văn thời Nguyễn vào không gian sống đương đại.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế, luận án tập trung khảo sát chủ yếu trên các hiện vật đồ gỗ nội thất nhà ở của tầng lớp trung lưu trở lên và hiện vật được lưu giữ tại các bảo tàng, di tích tiêu biểu; mảng đồ gỗ của tầng lớp bình dân ít có hiện vật nguyên vẹn do tác động khắc nghiệt của khí hậu và vật liệu tre nứa dễ thoái hóa. Một số tư liệu ảnh lịch sử chỉ tồn tại dưới dạng đen trắng nên việc xác định màu sắc nguyên bản của sơn thếp, chất gỗ gặp những giới hạn nhất định.

Về hướng nghiên cứu tiếp, luận án gợi mở việc mở rộng khảo sát hiện vật đồ gỗ nội thất dân gian ở các vùng phụ cận sâu hơn; nghiên cứu sâu về sự chuyển dịch kỹ thuật của các dòng họ nghệ nhân mộc di cư từ Bắc Bộ vào Huế và Nam Bộ; nghiên cứu giải pháp bảo quản vật lý - hóa học cho chất liệu gỗ khảm xà cừ trong điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm; và phát triển các ứng dụng số hóa 3D phục vụ thiết kế mỹ thuật ứng dụng.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo giá trị cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên, giảng viên ngành Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật, Mỹ thuật ứng dụng, Hội họa, Điêu khắc, Thiết kế nội thất, Văn hóa học, Lịch sử học và Bảo tàng học.
  • Các chuyên gia bảo tồn di sản, cán bộ quản lý bảo tàng, kiến trúc sư, nhà thiết kế nội thất và các nghệ nhân tại các làng nghề chạm khắc gỗ, khảm xà cừ truyền thống.
  • Các phần đáng tham khảo đặc biệt gồm: Khung phân loại hệ thống mô típ và kỹ thuật chế tác (Chương 2); Luận giải về bố cục ô hộc, thủ pháp "hóa" và sự phân hóa địa - văn hóa ba miền (Chương 3); cùng hệ thống tư liệu bản vẽ, bảng phụ lục hình ảnh hiện vật điền dã.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao luận án lựa chọn không gian nhà ở của tầng lớp trung lưu trở lên làm phạm vi khảo sát chính?
Trả lời: Dưới thời Nguyễn, nhà ở của người bình dân chủ yếu làm bằng tre nứa, đồ nội thất đơn sơ và khó tồn tại nguyên vẹn qua thời gian. Nhóm nhà ở của tầng lớp trung lưu trở lên có kiến trúc gỗ kiên cố, đồ gỗ nội thất được đầu tư chạm khắc cầu kỳ, đa dạng về kiểu dáng và hoa văn, lưu giữ được nhiều hiện vật tại các bảo tàng và di tích nhà cổ, phản ánh đầy đủ nhất giá trị mỹ thuật tạo hình thời kỳ này.

2. Thủ pháp tạo hình "hóa" trong hoa văn đồ gỗ thời Nguyễn có đặc trưng gì?
Trả lời: Thủ pháp "hóa" là lối tạo hình ước lệ độc đáo của nghệ thuật thời Nguyễn, biến đổi linh hoạt giữa các đề tài tự nhiên và linh vật (như rồng hóa trúc, rồng hóa mây, phụng hóa mai, nghê hóa cúc...). Lối tạo hình này vừa làm mềm hóa tính trang nghiêm của các biểu tượng cung đình, vừa đưa các yếu tố dân gian, hoa cỏ gần gũi vào đồ án trang trí.

3. Luận án giải thích sự khác biệt hoa văn đồ gỗ giữa ba miền Bắc, Trung, Nam dựa trên cơ sở nào?
Trả lời: Dựa trên lý thuyết địa - văn hóa, luận án chỉ ra: Miền Bắc mang phong cách chạm khắc chắc khỏe, hồn nhiên đậm chất điêu khắc đình làng dân gian; Kinh thành Huế mang phong cách cung đình quý phái, mảnh mai, tuân thủ thứ bậc nghiêm ngặt; Miền Nam thể hiện phong cách phóng khoáng, dung hợp nhiều yếu tố mới và xuất hiện các hoa văn đặc thù bản địa (như trái khổ qua, con vọt/vát).

4. Sự tiếp nhận yếu tố phương Tây trên hoa văn đồ gỗ nội thất thời Nguyễn diễn ra như thế nào?
Trả lời: Từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, đồ gỗ thời Nguyễn tiếp nhận các mô típ phương Tây như hoa văn lá tây (acanthus), cành ô liu, đường cong baroque/rococo, kết hợp với kiểu dáng đồ nội thất phương Tây (ghế tựa, tủ gương) nhưng được chế tác hoàn toàn bằng kỹ nghệ chạm khắc, khảm xà cừ và sơn thếp truyền thống của thợ thủ công Việt Nam.

5. Bố cục ô hộc trên đồ gỗ thời Nguyễn có vai trò gì?
Trả lời: Bố cục ô hộc là sự kế thừa và phát triển từ bố cục trang trí đối xứng thời Lý, Trần. Thủ pháp này chia bề mặt đồ gỗ thành các ô, mảng khung chữ nhật hoặc đa giác độc lập để trang trí từng đồ án riêng biệt (tứ quý, bát bửu, phong cảnh), tạo nên sự trật tự, trang trọng và nhịp điệu hài hòa cho toàn bộ sản phẩm nội thất.

Kết luận

Luận án tiến sĩ Hoa văn trang trí đồ gỗ nội thất thời Nguyễn của tác giả Bùi Trung Dũng là một công trình nghiên cứu chuyên khảo có hệ thống, giải quyết trọn vẹn khoảng trống học thuật về hoa văn đồ gỗ nội thất gia dụng dưới góc độ lý luận và lịch sử mỹ thuật. Bằng việc kết hợp liên ngành giữa tiếp biến văn hóa, địa - văn hóa và hình thái học nghệ thuật, công trình đã làm sáng rõ diện mạo, đặc trưng tạo hình, kỹ thuật chế tác và giá trị lịch sử - văn hóa sâu sắc của di sản đồ gỗ thời Nguyễn. Luận án không chỉ bổ sung nguồn tư liệu khoa học chuẩn xác cho lịch sử mỹ thuật Việt Nam mà còn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho công tác bảo tồn di sản và hoạt động thiết kế đương đại.