Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TỔNG TRÀ LĨNH CHÂU THẠCH LÂM TỈNH CAO BẰNG 1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên Địa bàn Trà Lĩnh hiện nay thuộc vùng cao biên giới nằm ở phía đông bắc của tỉnh Cao Bằng, có toạ độ địa lý từ 22o41’44” đến 22o54’14” vĩ bắc (từ Cốc Bó - Quốc Toản đến Lũng Chui - Cô Mười); từ 106o12’33” đến 106o27’10” kinh đông (từ Lũng Đận - Quang Vinh đến Lũng Ngùa - Quang Trung). Phía bắc giáp huyện Trịnh Tây (tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc). Phía đông giáp huyện Trùng Khánh.
Phía tây giáp huyện Hà Quảng. Phía nam giáp huyện Hoà An và Quảng Hoà. Trà Lĩnh có đường biên giới dài 32 km (từ mốc 87 xã Tri Phương đến mốc 97 xã Cô Mười). Có cửa khẩu Hùng Quốc thông sang Trung Quốc.
Trung tâm huyện lỵ cách thành phố Cao Bằng 34 km. Với vị trí địa lý này, Trà Lĩnh giữ vai trò là vùng đất hiểm yếu của tỉnh Cao Bằng. Là căn cứ quân sự có tính chất công thủ toàn diện trong các cuộc kháng chiến của dân tộc. Đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi cho sự tiếp xúc, giao thoa văn hóa giữa đồng bằng và miền núi.
Do sự tác động của quá trình vận động địa chất đã quy định đặc điểm của địa hình Trà Lĩnh là vùng núi. Sách Đồng Khánh địa dư chí viết: “Một dãy từ ải Long Bang châu Quy Thuận nước Thanh chạy đến xã Hệ Lũng chia ra 2 nhánh (núi đá): Nhánh bên trái chạy liền đến núi xã Ngọc Quản huyện Quảng Uyên. Nhánh bên phải chạy qua các xã Thạch Lại, Trà Lĩnh đến núi Mã Phục xã Án Lại” [39; tr. Trà Lĩnh có độ cao trung bình so với mặt biển là 650m đến 1051m.
Ở Trà Lĩnh chủ yếu có hai dạng núi đá vôi và đồi núi đất. Tại thị trấn Hùng Việt có núi Phja Đấy thuộc xóm Pò Khao - Dộc Đâu, núi Phja Khoác thuộc xóm Cốc Khoác, núi Phja Lũng Mò thuộc xóm Nà Khoang, núi Phja Chiên thuộc xóm Bản Khun, núi Phja Lĩnh thuộc xóm Bản Lang. Đồi Khưa Giảng thuộc xóm Bản Khun, đồi Dông Trang thuộc xóm Tổng Moòng, đồi Ram Thắn thuộc xóm Bán Lang - Nà Mương. Đèo Kéo Sảo thuộc xóm Cốc Cáng.
Tại xã Cao Chương có đồi Khau Siển nằm ở phía đông của xã Cao Chương. Đồi Khưa Giảng nằm ở phía đông bắc của xã Cao Chương. Đồi Đông Riểng nằm ở phía tây bắc, án ngữ con đường từ Cao Chương đến thị trấn Trà Lĩnh. Đồi An Mạ (Bản Pát), án ngữ trên đỉnh đèo Quang, sát con đường nối liền Trà Lĩnh với thành phố Cao Bằng [41].
Xã Cô Mười có núi Lũng Giao là ngọn núi cao nhất trong toàn xã. Xã 9 Lưu Ngọc có nhiều núi đá vôi, nổi tiếng là núi Lũng Hầu nằm ở phía tây giáp với xã Đức Xuân, Hoà An, thuộc xóm Đoóng Đeng. Núi đá vôi Nặm Áng cách trung tâm xã và xóm Lũng Pán khoảng 250m [41]. Xã Quang Hán: có núi Phja Đầy độ cao 800 m.
Núi Phja Ngườm nằm ở xóm Đoảng Rỉ có độ cao 700 m so với mặt biển. Núi Khau Vạc nằm ở xóm Roỏng Búa, có độ cao 806 m so với mặt biển, là núi đất cạnh núi Phja Ngườm. Núi Dảo Quỷnh nằm ở xóm Khau Phải có độ cao 954m so với mặt biển [41]. Núi Phja Tặng thuộc xóm Vững Bền độ cao trên 700 m so với mặt nước biển.
Cuối thời hậu Lê, nhà Lê định xây lăng ở phía đông quả núi này (hiện nay địa phương gọi khu vực này là Lăng Báu), sau đó động đất làm núi bị sập một phần, hiện nay còn hai vách đá dựng đứng. Phần núi bị sập có hang gọi là Ngườm Luông, vết tích nay còn một tảng đá lớn có khắc bài thơ bằng chữ Hán. Xã Quang Trung có núi Phja Hương, Cốc Phát, Pò Cô Lặp, Khau Lươi, Lũng Ro, Lạn Dưới. Ngoài ra còn có rất nhiều đèo: Kéo Quang, Lũng Bá, Lũng Duốc, Keng Mạ Tác, Kéo Cô Muống, Kéo Lũng Khoen, Kéo Lũng Nặm, Kéo Gả, Kéo Hấu, Kéo Báng [41].
Xã Quốc Toản có núi Rí Kiển nằm ở phía nam, trên đỉnh đèo Mã Phục, giáp với xã Nguyễn Huệ; múi Nhi Ca Nảng nằm ở phía đông, trước bản Cao Xuyên. Đèo Mã Phục nằm ở phía nam của xã, có chiều dài 3,5 km. Đèo Kéo Phựt giáp Bản Kỉnh xã Quốc Dân. Đèo Kéo Quang nằm ở phía bắc đường vào Trà Lĩnh [41].
Xã Tri Phương có núi Tháp Bút (núi đá vôi), tiếng địa phương gọi là Phja Niền, độ cao khoảng 750m. Đèo Keng Rung nằm cách xóm Lũng Láo khoảng 700 m, dài khoảng 1. Đèo Kéo Mồi từ Nà Hán đi Lũng Nặm có độ đốc khoảng 30%, dài khoảng 800 m [41]. Xã Xuân Nội, có núi Lũng Tháy, núi đá Lũng Hóc, độ cao 800 m.
Đồi Khau Ngân, giáp xã Phi Hải, huyện Quảng Uyên. Đồi Pò Đôn, giáp xã Cao Chương. Đèo Lũng Riềm trên đường mòn từ Lũng Đâu vào xóm Lũng Riềm. Đèo Lũng Khoang từ Bản Súm di Lũng.
Đèo Khau Huộc từ xóm Bản Mán di Cao Chương. Nhìn chung, địa hình chủ yếu của Trà Lĩnh là núi, đồi. Xen kẽ giữa các đồi núi cao là các thung lũng hẹp với nhiều hình thái khác nhau. Với địa thế núi non hiểm trở, Trà Lĩnh có vai trò quan trọng trong lĩnh vực quân sự.
Tuy nhiên, lại gây không ít khó khăn cho việc giao thông trên địa bàn. Trà Lĩnh có con đường độc đạo sang Trung Quốc. Sách Hoàng Việt nhất thống dư địa chí (do Lê Quang Định biên soạn năm 1806) cho biết: “1.090 tầm đi qua núi Mã Phục đến ngả ba, hai bên đường đều là rừng núi, giữa khoảng đó có ruộng cấy 10 lúa, có con đường theo hướng tây bắc đi 7.969 tầm, qua Trà Lĩnh, đến ải Tẩu Quí, giáp đầu địa giới châu Quy Thuận của Trung Quốc. Ở Trà Lĩnh có đặt tuần thu thuế và cũng có đồn phân thủ để xét hỏi người qua lại” [15; tr.
Nhìn chung, do sự chi phối của địa hình nên hệ thống đường giao thông ở Trà Lĩnh khá khó khăn. Vùng đất Trà Lĩnh nhiều suối, ít sông. Trên địa bàn tổng Trà Lĩnh nửa đầu thế kỷ XIX theo ghi chép của sách Đại Nam nhất thống chí có con sông Cổn là lớn nhất chảy qua:“Cách huyện Thạch An 15 dặm về phía tây, nguồn từ của ải Tứ Bang thuộc châu Qui Thuận nước Thanh, chảy về phía đông nam qua các xã Châu Sơn, Tráng Biên, Tĩnh Lăng và Mãng Sơn thuộc huyện Thạch Lâm đến thôn Quang, xuyên qua hang đá chảy ra, qua các xã Khâu An, Hàm An và Gia Cung thuộc huyện Thạch An, đến phía đông tỉnh thành đổ vào Mãng Giang” [29; tr. Sách Cao Bằng thực lục chép: “Sông này nhỏ hẹp, nước chảy chậm, nước trong mà ngọt hơn các sông khác, dùng để pha trà thì vị ngon, dùng để giải nhiệt trừ phiền thì rất tốt.Nước sông Cổn nếu tự nhiên cạn thì năm ấy ứng điềm mất mùa, đói kém nghiệm xét xưa nay đều có như thế” [8].
Hiện nay, Trà Lĩnh có các con sông như: Sông Phai Tao bắt nguồn từ xóm Phai Can thuộc thị trấn Long Bang, Trung Quốc có chiều dài 6 km, chiều rộng khoảng 14 m, độ sâu trung bình 2m, tốc độ dòng chảy 50 m3/giây, cung cấp nước tưới tiêu cho toàn bộ diện tích hoa màu. Sông Tả Kéng bắt nguồn từ xã Quang Hán chảy qua xóm Pò Khao, có chiều dài khoảng 2 km, có độ sâu trung bình khoảng 3 m, chiều rộng khoảng 11 m, tốc dộ dòng chảy khoảng 70m3/giây. Sông này cung cấp nước cho cánh đồng xóm Pò Khao và xóm Nà Thấu. Sông Trà Lĩnh chảy qua địa phận thị trấn Hùng Quốc vào xã Cao Chương từ Kéo Nạc đi qua các xóm Nà Ý, Đoóng Vựt, Pò Cọt, Vạc Gả, Vạc Niếng rồi chảy qua hang Rù Sặp, đổ ra địa phận xã Quốc Toản, chảy vào hồ Thang Hen với chiều dài khoảng 8 km, rộng từ 10 m - 12 m, sâu trung bình khoảng 2,5m.
Lưu lượng dòng chảy: mùa mưa 500 m3/s, mùa khô 0,6 m3/s. Mùa lũ nước dồn từ đầu nguồn và các khe, lạch nhỏ phía đông về làm cho dòng chảy dâng cao, tạo thành lũ đến hang Rù Sặp, nước không tiêu kịp. Mùa khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau, lưu lượng dòng chảy ít, thiếu nước tưới cho các vùng ven sông. Tại xã Tri Phương có sông Bắc Vọng bắt nguồn từ huyện Trịnh Tây, Quảng Tây, Trung Quốc, đoạn chảy qua xã dài 6km, rộng trung bình 35m, chỗ hẹp nhất 15m, sâu nhất 10m [41].
11 Ngoài những con sông trên, Trà Lĩnh được ưu đãi với hệ thống những con suối. Xã Cô Mười có một dòng suối chảy quanh năm bắt nguồn từ mỏ nước Rằng Pù ở đầu xã, chảy qua các xóm Bó Hoạt, Cô Tó, Vạc Khoang, Cô Mười đến xóm Bản Tám ở cuối xã rồi qua địa phận xã Quang Hán. Xã Lưu Ngọc có suối Nặm Áng, bắt nguồn từ khu rừng Nặm Áng, chảy dọc giữa hai cánh đồng xóm Lũng Pán đến Pác Ngàm sau đó đổ vào hang sâu, độ dài khoảng 500-600 m. Xã Quang Trung có 14 suối (bó) gồm: Hung, Cô Muổng, Khỉ Bẻ, Rằng Khiêu, Luộc Vài, Lũng Giang, Pảng, Dán Dâu, Tốc Tát, Bản Chang, Diển, Roỏng Khuất, Rằng, Nà Thin.
Các suối nước trên có lưu lượng dòng chảy nhỏ, cung cấp trên 60% nước tưới cho sản xuất nông nghiệp. Xã Quốc Toản có suối Cao Xuyên chảy từ Khau Rặc, Lũng Sặp xuống Cốc Phát, nơi có mỏ nước chảy ra. Mạch nước ngầm chảy ra Lũng Hán, Cao Xuyên, từ mỏ Phai Kiệt chảy xuống làng Cao Xuyên, qua khe núi ngầm từ đó đổ ra xóm Nhòm Nhèm, sau đó chảy ra Án Lại. Suối có chiều dài 2,5 km, chiều rộng 3,5 m.
Xã Xuân Nội có suối Co Po chảy qua Bản Khuổi, Bản Súm dài trên 3 km, rộng trung bình 3,5m, độ sâu từ 30- 100 cm. Suối Đông Đăm chảy qua xóm Mán Đâu - Rù Sặp ra Bán Mán - Làn Hoài - Tấu Kéo, xuống Bán Súm dài trên 3 km rộng trung bình 3,5m, độ sâu từ 50-100 cm. Bên cạnh đó, Trà Lĩnh còn có nhiều hồ tự nhiên. Hồ Thang Hen là lớn nhất với diện tích là 55,2ha, độ sâu trên 150 m, có mạch nước chảy từ Trà Lĩnh, Cao Chương chảy xuống.
Hồ Tính (nằm giữa cánh đồng thuộc hai xóm Bản Pát và Đoóng Giài) xã Cao Chương. Hồ Bó Thá (Bản Pát) diện tích 0,7 ha, với trữ lượng nước là 1. Hồ Thôm Rìa có mặt nước rộng 2,6 ha vào mùa mưa. Dưới thời Nguyễn, những con sông, con suối và các hồ chảy qua các làng xã thuộc tổng Trà lĩnh đã bồi đắp phù sa cho đồng bằng nhỏ hẹp ven sông của tổng, tạo thuận lợi cho việc phát triển kinh tế nông nghiệp.