Luận văn thạc sĩ vận dụng tư tưởng dân là gốc của hồ chí minh vào công tác dân vận ở thành phố đà nẵng hiện nay

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu vận dụng tư tưởng dân là gốc của hồ chí minh vào công tác dân vận ở thành phố đà nẵng hiện nay, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Trường đại học

Đại học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Triết học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2022

117
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Vận Dụng Tư Tưởng Hồ Chí Minh Tại Đà Nẵng 50 ký tự

Bài viết này đi sâu vào việc vận dụng tư tưởng 'Dân là gốc' của Hồ Chí Minh trong công tác dân vận tại thành phố Đà Nẵng. Đây là một chủ đề có ý nghĩa chiến lược, đặc biệt trong bối cảnh Đà Nẵng đang nỗ lực phát triển kinh tế - xã hội và củng cố quốc phòng - an ninh. Tư tưởng của Người luôn là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là trong công tác dân vận, giúp tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa Đảng, chính quyền và nhân dân. Vận dụng tư tưởng này một cách sáng tạo và hiệu quả sẽ góp phần quan trọng vào sự phát triển bền vững của thành phố. Bài viết sẽ trình bày rõ thực trạng, các giải pháp và những bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn.

1.1. Tầm Quan Trọng của Tư Tưởng Hồ Chí Minh về Dân Vận

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định vai trò then chốt của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng. Người dạy: “Dễ mười lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũng xong”. Tư tưởng này nhấn mạnh rằng sức mạnh thực sự nằm ở nhân dân và chỉ khi dựa vào dân, lắng nghe dân, và phục vụ dân thì mọi công việc mới có thể thành công. Công tác dân vận là cầu nối quan trọng giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, giúp củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Vận dụng tư tưởng của Người, công tác dân vận cần hướng tới việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tạo điều kiện để nhân dân tham gia vào quá trình xây dựng và phát triển đất nước.

1.2. Bối Cảnh Vận Dụng tại Đà Nẵng Cơ Hội và Thách Thức

Đà Nẵng là một thành phố năng động, có nhiều tiềm năng phát triển, song cũng đối mặt với không ít khó khăn, thách thức. Tình hình kinh tế - xã hội có nhiều biến động, đời sống của một bộ phận nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là những người chịu ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh. Bên cạnh đó, tình hình khiếu kiện đông người, vấn đề môi trường, và những luận điệu xuyên tạc, kích động của các thế lực thù địch cũng đặt ra những thách thức không nhỏ cho công tác dân vận. Để vượt qua những khó khăn này, cần thiết phải vận dụng một cách sáng tạo và hiệu quả tư tưởng 'Dân là gốc' của Chủ tịch Hồ Chí Minh, khơi dậy sức mạnh to lớn của nhân dân.

II. Phân Tích Thực Trạng Công Tác Dân Vận Tại Đà Nẵng 57 ký tự

Việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào công tác dân vận tại Đà Nẵng đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, góp phần quan trọng vào sự phát triển của thành phố. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, công tác dân vận vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định. Một số cán bộ, đảng viên chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của dân vận, chưa thực sự lắng nghe và giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc của nhân dân. Sự phối hợp giữa các cơ quan, ban, ngành trong hệ thống chính trị trong công tác dân vận còn thiếu đồng bộ và hiệu quả.

2.1. Đánh Giá Kết Quả Đạt Được trong Công Tác Dân Vận

Đà Nẵng đã có nhiều nỗ lực trong việc triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về dân vận, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Phong trào 'Dân vận khéo' được triển khai sâu rộng, phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị. Nhiều mô hình dân vận hiệu quả đã được nhân rộng, góp phần giải quyết những vấn đề bức xúc trong cộng đồng. Công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo được quan tâm, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước.

2.2. Những Hạn Chế và Nguyên Nhân Cần Khắc Phục Ngay

Công tác dân vậnĐà Nẵng vẫn còn một số hạn chế như: nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên về công tác dân vận chưa đầy đủ; việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở còn hình thức; sự phối hợp giữa các cơ quan, ban, ngành chưa đồng bộ; năng lực của đội ngũ cán bộ dân vận còn hạn chế. Nguyên nhân của những hạn chế này có nhiều, bao gồm: nhận thức chưa đầy đủ, thiếu kiểm tra, giám sát, chưa có cơ chế phối hợp hiệu quả, và đội ngũ cán bộ chưa được đào tạo bài bản.

2.3. Thực Tiễn Vận Dụng Quy Chế Dân Chủ ở Đà Nẵng

Việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại Đà Nẵng còn gặp nhiều khó khăn, mang tính hình thức. Người dân chưa thực sự được tham gia vào việc quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương. Cần có các giải pháp thiết thực để đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường sự giám sát của nhân dân đối với hoạt động của chính quyền.

III. Phương Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Dân Vận Ở Đà Nẵng 54 ký tự

Để nâng cao hiệu quả công tác dân vậnĐà Nẵng, cần có những giải pháp đồng bộ và toàn diện, tập trung vào việc nâng cao nhận thức, đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, xây dựng đội ngũ cán bộ dân vận vững mạnh, và tăng cường sự phối hợp giữa các lực lượng. Việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh cần được thực hiện một cách sáng tạo, phù hợp với điều kiện thực tế của thành phố.

3.1. Tăng Cường Tuyên Truyền Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Dân Vận

Cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục về tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Sử dụng nhiều hình thức tuyên truyền phong phú, đa dạng, phù hợp với từng đối tượng. Tổ chức các hội thảo, tọa đàm, các lớp bồi dưỡng để nâng cao nhận thức và kỹ năng dân vận cho cán bộ. Đặc biệt cần nhấn mạnh quan điểm dân là gốc, dân là chủ, dân là trung tâm.

3.2. Đổi Mới Phương Thức Dân Vận Trong Tình Hình Mới

Cần đổi mới phương thức dân vận, tăng cường đối thoại trực tiếp với nhân dân, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của nhân dân. Sử dụng công nghệ thông tin để kết nối với nhân dân, giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc của nhân dân. Xây dựng cơ chế để nhân dân tham gia vào quá trình xây dựng và thực hiện chính sách.

3.3. Xây Dựng Đội Ngũ Cán Bộ Dân Vận Vững Mạnh Tại Đà Nẵng

Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ dân vận có phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực, trình độ, và tâm huyết với công việc. Có chính sách đãi ngộ phù hợp để thu hút và giữ chân cán bộ dân vận. Tạo điều kiện để cán bộ dân vận được học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ.

IV. Ứng Dụng Tư Tưởng Dân Vận Trong Phát Triển Đà Nẵng 59 ký tự

Vận dụng tư tưởng 'Dân là gốc' của Hồ Chí Minh vào công tác dân vận tại Đà Nẵng không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan dân vận, mà còn là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, ban, ngành, các tổ chức chính trị - xã hội để tạo ra sức mạnh tổng hợp trong công tác dân vận. Chỉ khi dựa vào sức mạnh của nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân thì Đà Nẵng mới có thể phát triển nhanh chóng và bền vững.

4.1. Dân Vận trong Xây Dựng Nông Thôn Mới Đô Thị Văn Minh

Công tác dân vận có vai trò quan trọng trong việc xây dựng nông thôn mới và đô thị văn minh tại Đà Nẵng. Vận động nhân dân tham gia vào các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội. Tạo điều kiện để nhân dân được hưởng lợi từ những thành quả phát triển. Xây dựng môi trường sống xanh, sạch, đẹp, và an toàn.

4.2. Dân Vận Trong Bảo Đảm An Ninh Chính Trị Trật Tự An Toàn

Công tác dân vận góp phần quan trọng vào việc bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Vận động nhân dân nâng cao ý thức cảnh giác, phòng chống tội phạm. Xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Giải quyết kịp thời những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, không để kẻ xấu lợi dụng, kích động.

4.3. Thực Hiện Dân Vận Khéo Trong Giải Quyết Khiếu Nại

Thực hiện tốt công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phản ánh của nhân dân. Tăng cường đối thoại, hòa giải, giải quyết dứt điểm các vụ việc ngay từ cơ sở. Đảm bảo quyền lợi chính đáng của nhân dân. Xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm pháp luật.

V. Bài Học Kinh Nghiệm Từ Công Tác Dân Vận Tại Đà Nẵng 58 ký tự

Qua thực tiễn vận dụng tư tưởng 'Dân là gốc' của Hồ Chí Minh vào công tác dân vận tại Đà Nẵng, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm quý báu. Đó là: phải luôn đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết; phải tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; phải lắng nghe và giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc của nhân dân; phải xây dựng đội ngũ cán bộ dân vận có phẩm chất đạo đức tốt và năng lực chuyên môn cao; và phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng trong hệ thống chính trị.

5.1. Vai Trò Của Lãnh Đạo Và Quản Lý Trong Dân Vận

Người lãnh đạo cần thể hiện vai trò tiên phong, gương mẫu trong công tác dân vận. Cần gần dân, sát dân, lắng nghe ý kiến của dân. Cần giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc của nhân dân. Cần tạo điều kiện để nhân dân tham gia vào quá trình quản lý nhà nước.

5.2. Sự Tham Gia Của Toàn Dân Vào Phong Trào Dân Vận

Phong trào dân vận chỉ thực sự hiệu quả khi có sự tham gia của toàn dân. Cần tạo điều kiện để các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể quần chúng phát huy vai trò trong công tác dân vận. Cần khuyến khích nhân dân tham gia vào các hoạt động tự quản, tự phòng, tự bảo vệ.

5.3. Cơ Chế Giám Sát Và Đánh Giá Hiệu Quả Công Tác Dân Vận

Cần có cơ chế giám sát và đánh giá hiệu quả công tác dân vận. Cần định kỳ tổ chức khảo sát, đánh giá mức độ hài lòng của nhân dân. Cần có hình thức khen thưởng, kỷ luật kịp thời để động viên, khuyến khích và chấn chỉnh những sai sót.

VI. Kết Luận Và Tương Lai Của Dân Vận Tại Đà Nẵng 60 ký tự

Việc vận dụng tư tưởng 'Dân là gốc' của Hồ Chí Minh vào công tác dân vận tại Đà Nẵng là một quá trình lâu dài và liên tục. Trong thời gian tới, cần tiếp tục đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức, và có những giải pháp sáng tạo để đưa công tác dân vận lên một tầm cao mới, góp phần xây dựng Đà Nẵng trở thành một thành phố đáng sống, văn minh, hiện đại.

6.1. Tiếp Tục Phát Huy Sức Mạnh Của Tư Tưởng Hồ Chí Minh

Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận mãi là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng và Nhà nước. Cần tiếp tục nghiên cứu, học tập và vận dụng tư tưởng của Người một cách sáng tạo, phù hợp với điều kiện thực tế.

6.2. Hướng Đến Một Nền Dân Vận Chuyên Nghiệp Và Hiệu Quả

Cần xây dựng một nền dân vận chuyên nghiệp, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới. Đầu tư vào đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ dân vận có phẩm chất và năng lực cao.

25/04/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho cách mạng Việt Nam chuẩn bi đi vào con đường cách mạng vô sản, nhịp bước cùng với thời đại. kết hợp chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân một cách hữu cơ tử trong bản chất giai cắp và trên tỉnh thần đấu tranh vì lợi ích dân tộc v: ;ủa toàn nhân loại. Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thể ký XX, chủ nghĩa tư bản đã phát triển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn dé quốc chủ nghĩa, xác lập sự thống, trị trên phạm vi thể giới. Chủ nghĩa để quốc đã trở thành kẻ thù chung của tất cả các dân tộc thuộc địa.

Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 thing lợi và sự ra đời của Liên bang Xô viết đã tạo ra những tiễn đề, điều kiện cơ bản thúc day phong trio giải phóng dân tộc ở các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam phát triển nhanh chóng, mở ra thời kỳ mới trong lịch sử nhân loại. Chính những cuôc cách mang này đã cho chúng ta thấy vai trỏ, sức mạnh to lớn của quản chúng nhân dân. Đây chính là tiền đề lịch sử quan trọng cho việc hình thành tư tưởng "lấy dân làm gốc” của Hồ Chí Minh 1.2 Nội dung trong tư trởng dân là gốc của Hồ Chí Minh Dân là gốc của nước, nước lấy dân làm gốc lả tư tưởng vả phương châm hành động của các bậc hiền minh từ Đông sang Tây, từ cổ chí kim. Trên tỉnh thần kế thừa và phát triển tỉnh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại, Hồ Chí Minh đã nâng tư tưởng "lấy dân làm góc” lên một tầm cao mới.

Tư tưởng của 7 Người vừa có sự chung đúc với tiền nhân, vừa có nét độc đáo, sáng tạo. Thể hiện ở một số nội dung tiêu biểu sau: Thứ nhất, quan niệm mới về quân chúng nhân dân: Vận dụng và phát triển sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về dân vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Hồ Chí Minh đã xem quan niệm vẻ dân trong những điều kiện lịch sử cụ thể. Trước cách mạng tháng § năm 1945, Hồ Chí Minh thường dùng những thuật ngữ: “người bản xứ”, “người bản xứ bị áp bức”, “người mất nước", “người bị bóc lột”, “người củng khô”. Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, Hỗ Chí Minh thường dùng những khái niệm: “Quốc.

dan”, “đồng bảo”, “nhân đân”, “dân”. Đó là những khái niệm dùng để chỉ những người có cùng một quốc gia, cùng một nước, cùng một cội nguồn, bao gồm tắt cả mọi gia ting khác nhau và những người yêu nước khác nhau. Có lúc Hỗ Chí Minh cho rằng: Nhân dân là bốn giai cấp công, nông, tiểu tư sản, tư sản dân tộc và những thành phần từ khác yêu nước. Đó là nền tảng của quốc dân.

Nói đến dân là nói đến những người đứng ngoài bộ máy cai trị, chịu tác đông từ chính sách của nhà cầm quyền. Nếu trong quan niệm của giai cấp phong kiến, dân chỉ la “thin din”, “thio dan”, tức tầng lớp “bi trí” thấp hẻn thì đối với Hồ Chí Minh: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoản kết của nhân dan” [43, tr 453]. Quan niệm về nhân dân của Hỏ Chí Minh có điểm khác biệt so với chủ nghĩa Mác - Lênin.

Nếu Lênin nhấn mạnh tính giai cấp khi coi “quản chúng là đa số, và hơn thế nữa chăng những đa số công nhân, mà là đa 58, tr 38] thì Hỗ Chí Minh nhắn mạnh tính dân tộc khi định nghĩa: “Nhân dân là bốn giai cấp công, nông, tiêu tư sản, tư sản đân tộc và những phần tứ yêu nước khác” [38, tr 264]. Việc mở rộng nội hàm nhân dân của Hỗ Chí Minh hoàn toàn phủ hợp với đặc điểm của xã hội Việt Nam. Mặt khác, quan niệm của Người về nhân dân cũng khác biệt so. 18 với ông cha khi Người đứng trên lập trường của giai cắp công nhân đề khẳng định công - nông là gốc của cách mạng.

Kế thừa và phát huy các giá trị tinh thân truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh lả người Việt Nam đầu tiên nhận thức và đánh giá đúng đắn vai trỏ, vị trí, sức mạnh của nhân dân với một chất lượng khoa học và cách mạng cao. Người nhắc nhở cán bộ, đảng viên “chủng ta phải ghi tạc vào đầu cái chân lý nảy: “dân rất tốt" [3§, tr 286.] Dân rất tốt là một chân lý, vỉ tuy đã bao đời chịu đựng gian khỏ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều năm chiến tranh. nhưng nhân dân ta rất anh hùng. dũng cảm, hãng hái.

Người còn khẳng định dân chúng khôn khéo; trí tuệ và sáng kiến của quản chúng là vô củng tận; “nhân dân trăm tai nghìn mắt vẫn có nhiễu ý kiển thông minh, có thể giúp cho các chú tiến bộ hơn. Công tác gì muốn làm tốt đều phải coi trọng ý kiến của nhân dân"{48, tr 668]. Nói về lòng đân, Hỏ Chí Minh đúc kết: “Ta được lòng dân thì ta không sợ gì cả. Nếu không được lòng dân thì ta không thể làm tốt công tác" [48, tr 142].

Chính của cải, sức mạnh, đạo đức, tài năng, lòng tin của dân đã tạo nên "cái gốc” của nước. Nhận thức sâu sắc vẽ cái "gốc" đó, Hỗ Chí Minh đúc kết: *Nước lấy dân làm gốc. Gốc có vững, cây mới bễn/Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân” [38]. Như vậy, lòng đân chính là "vận nước”.

Thứ hai, Hỗ Chỉ Minh khẳng định vai trỏ của dân trong sự nghiệp cách mạng và vị thể của dân trong chế độ mới. Nêu giai cấp phong kiến, giai cấp tư sản coi nhân dân chỉ là động lực, phương tiện cần huy 1g cho các cuộc đấu tranh thì Hồ Chi Minh khang định nhân dân là chủ thẻ vả là mục. tiêu của cách mạng. Người nhấn mạnh: Lâm cách mạng phải dựa vào dân nhưng làm cách mạng để mang lại hạnh phúc cho đân.

Người còn nâng quan điểm “Dân vi bản” vả truyền thống “thân dân” thành quan điểm “dân là chủ và làm chủ". Người khẳng định: Trong chế độ dân chủ, nhân dân mới là chủ 19 sở hữu mọi quyền lực. Nếu cụm từ “dân là chủ” nói đến địa vị cao nhất của. dân trong xã hội thì cụm từ *dân làm chủ” nói đến trách nhiệm và nghĩa vụ làm chú của dân.

Sự nghiệp cách mạng không chỉ của dân mà còn do dân; cho nên, bản thân quần chúng nhân dân phải cỏ đạo đức vả trách nhiệm công dân. Mặt khác, khi dân đã lả chủ thì tất cả cán bộ, kế cả Chú tịch nước, đều là đây tớ của dân. Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên phải nhận thức rõ vai trò “kép” của mình: Vừa là người đầy tớ trung thành, vừa là người lãnh. đạo sáng suốt nhưng “lãnh đạo là làm đầy tớ cho nhân dân và phải làm cho.

tốt” [48, tr 292] Thứ ba, Hỗ Chí Minh nhẫn mạnh yêu câu tắt cá cán bộ, đẳng viên phải gan dan, trọng dân, học dân, thật thà trước dân và yêu dân. Dân tộc Việt Nam da t6n tại hàng ngàn năm nhưng Đáng thì mới ra đời vào năm 1930. Điều đó có nghĩa Ì côi nguồn sức mạnh của Đảng nên muốn lãnh đạo dân, Đảng phải gần dân, lắng nghe dân, thấu hiểu dân để đề ra chủ trương, chính sách hợp lòng dân. Coi xa dân, quan liêu là những căn bệnh lớn nhất của đảng cẩm quyền nên Hồ Chí Minh đã viết: Đề nghị các vị Bộ trưởng nên luyện cho mình đôi chân hay đi, đôi mắt hay nhìn, cái óc hay nghĩ, không nên chỉ ngồi bàn giấy, theo kiểu “đạo nhân phòng thủ” [49, 110, tr 131] Không chỉ nhắn mạnh phương thức hoạt động của Đảng là "phải tử trong quần chúng ra, trở lai noi quần chúng” [47, tr 501 - 502].

Người còn cảnh báo: Nếu xa cách dân chúng thì nhất định thất bại. Sự “gần dân” trong quan niệm của Hồ Chí Minh không chỉ là gần về khoảng cách địa lý, tức là cán bộ phải bám sát cơ sở mà còn phải "gằn” về lối sống, mức sống, thậm chí là cán bộ, đảng viên phải có tinh than “tiên ưu hậu lạc”. Chỉ như thế nhân dân mới thấy đây là người đại diện của mình và cán bộ cũng mới hiểu rõ dân sinh, dân ý, dân tình. Dân là “gốc” của nước nên Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên 20 phải thực hành văn hóa trọng đân, trước hết là tôn trọng ý nguyện và quyền làm chủ của dân.

Người căn đặn *ÿ dân là ÿ trời”, dân muốn gì ta phải làm nấy. Sự tín nhiệm cúa dân luôn thẻ hiện chính xác năng lực, phẩm chất của cán bộ nên Đảng phải tôn trọng đánh giả của dân vẻ từng cán bộ để làm tốt công tác tổ chức. Do lực lượng của dân rất đông, trí tuệ của dân là vô tận nên cán bộ, đảng. viên phải thực sự cầu thị, khiêm tốn, học hỏi dân chúng.

Dân chính là người chịu tác động của mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nên việc xây dựng đường lối phải dựa trên ý nguyện của dân, tuyệt đối không được chủ quan, duy ý chỉ; nếu “nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì đề nghị họ sửa chữa” [39, tr 432]. Trong công tác lãnh đạo dân chúng, nếu cán bộ “có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân và hoan nghênh nhân dân phê bình mình” [39, tr 330]. Sự thành thực của cán bộ không chỉ làm dân thông cảm, tin yêu mà còn là cơ số để Đảng khắc phục hạn chế, ngày cảng trưởng thành hơn. Mọi tỉnh cảm bền vững phải dựa trên nguyên tắc hai chiểu nên Hỗ Chí Minh đã căn dặn cán bộ là, "chúng ta phải yêu dân, kính dân thỉ dân mới yêu ta, kính ta”.

Thứ tư, cán bộ, đảng viên của Đảng phải thực sự dựa vào dân để vì đân. “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”, vì vậy, cho đủ Đảng Cộng s là lực lượng dẫn đường nhưng "những người cộng sản chỉ là một giọt nước. trong đại dương, một giọt nước trong đại dương nhân dân” [59, tr 117]. Muôn thực hiện bắt cứ chiến lược nào, Đảng đều phải bàn bạc với đân, dựa vào dân, huy động sức mạnh trong nhân dân.

Không chỉ dựa vào dân, quan trọng hơn là Hồ Chí Minh đã coi lợi ích của dân là mục tiêu của cách mạng, lý tưởng của Đảng. Người nói rõ “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng. bảo sung sưởng” [41, tr 337].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tóm tắt nhanh về luận văn "Vận dụng tư tưởng 'Dân là gốc' của Hồ Chí Minh vào công tác dân vận tại Đà Nẵng: Nghiên cứu và giải pháp": Luận văn này tập trung nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nhằm vận dụng hiệu quả tư tưởng "Dân là gốc" của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào công tác dân vận tại thành phố Đà Nẵng. Điểm cốt lõi là làm thế nào để chính quyền địa phương thực sự gần dân, hiểu dân, lắng nghe ý kiến của dân, từ đó xây dựng một hệ thống chính trị vững mạnh và phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Người đọc sẽ tìm thấy những phân tích sâu sắc về thực trạng công tác dân vận tại Đà Nẵng, những khó khăn, thách thức và đặc biệt là những giải pháp cụ thể, thiết thực để nâng cao hiệu quả công tác này.

Để hiểu sâu hơn về tư tưởng Hồ Chí Minh và cách vận dụng vào thực tiễn, bạn có thể tham khảo thêm:

Mỗi liên kết trên là một cơ hội để bạn khám phá sâu hơn, mở rộng kiến thức của mình về tư tưởng Hồ Chí Minh và ứng dụng của nó trong công tác dân vận cũng như các lĩnh vực khác của đời sống xã hội.