mở đầu cho cách mạng Việt Nam chuẩn bi đi vào con đường cách mạng vô sản, nhịp bước cùng với thời đại. kết hợp chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân một cách hữu cơ tử trong bản chất giai cắp và trên tỉnh thần đấu tranh vì lợi ích dân tộc v: ;ủa toàn nhân loại. Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thể ký XX, chủ nghĩa tư bản đã phát triển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn dé quốc chủ nghĩa, xác lập sự thống, trị trên phạm vi thể giới. Chủ nghĩa để quốc đã trở thành kẻ thù chung của tất cả các dân tộc thuộc địa.
Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 thing lợi và sự ra đời của Liên bang Xô viết đã tạo ra những tiễn đề, điều kiện cơ bản thúc day phong trio giải phóng dân tộc ở các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam phát triển nhanh chóng, mở ra thời kỳ mới trong lịch sử nhân loại. Chính những cuôc cách mang này đã cho chúng ta thấy vai trỏ, sức mạnh to lớn của quản chúng nhân dân. Đây chính là tiền đề lịch sử quan trọng cho việc hình thành tư tưởng "lấy dân làm gốc” của Hồ Chí Minh 1.2 Nội dung trong tư trởng dân là gốc của Hồ Chí Minh Dân là gốc của nước, nước lấy dân làm gốc lả tư tưởng vả phương châm hành động của các bậc hiền minh từ Đông sang Tây, từ cổ chí kim. Trên tỉnh thần kế thừa và phát triển tỉnh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại, Hồ Chí Minh đã nâng tư tưởng "lấy dân làm góc” lên một tầm cao mới.
Tư tưởng của 7 Người vừa có sự chung đúc với tiền nhân, vừa có nét độc đáo, sáng tạo. Thể hiện ở một số nội dung tiêu biểu sau: Thứ nhất, quan niệm mới về quân chúng nhân dân: Vận dụng và phát triển sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về dân vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Hồ Chí Minh đã xem quan niệm vẻ dân trong những điều kiện lịch sử cụ thể. Trước cách mạng tháng § năm 1945, Hồ Chí Minh thường dùng những thuật ngữ: “người bản xứ”, “người bản xứ bị áp bức”, “người mất nước", “người bị bóc lột”, “người củng khô”. Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, Hỗ Chí Minh thường dùng những khái niệm: “Quốc.
dan”, “đồng bảo”, “nhân đân”, “dân”. Đó là những khái niệm dùng để chỉ những người có cùng một quốc gia, cùng một nước, cùng một cội nguồn, bao gồm tắt cả mọi gia ting khác nhau và những người yêu nước khác nhau. Có lúc Hỗ Chí Minh cho rằng: Nhân dân là bốn giai cấp công, nông, tiểu tư sản, tư sản dân tộc và những thành phần từ khác yêu nước. Đó là nền tảng của quốc dân.
Nói đến dân là nói đến những người đứng ngoài bộ máy cai trị, chịu tác đông từ chính sách của nhà cầm quyền. Nếu trong quan niệm của giai cấp phong kiến, dân chỉ la “thin din”, “thio dan”, tức tầng lớp “bi trí” thấp hẻn thì đối với Hồ Chí Minh: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoản kết của nhân dan” [43, tr 453]. Quan niệm về nhân dân của Hỏ Chí Minh có điểm khác biệt so với chủ nghĩa Mác - Lênin.
Nếu Lênin nhấn mạnh tính giai cấp khi coi “quản chúng là đa số, và hơn thế nữa chăng những đa số công nhân, mà là đa 58, tr 38] thì Hỗ Chí Minh nhắn mạnh tính dân tộc khi định nghĩa: “Nhân dân là bốn giai cấp công, nông, tiêu tư sản, tư sản đân tộc và những phần tứ yêu nước khác” [38, tr 264]. Việc mở rộng nội hàm nhân dân của Hỗ Chí Minh hoàn toàn phủ hợp với đặc điểm của xã hội Việt Nam. Mặt khác, quan niệm của Người về nhân dân cũng khác biệt so. 18 với ông cha khi Người đứng trên lập trường của giai cắp công nhân đề khẳng định công - nông là gốc của cách mạng.
Kế thừa và phát huy các giá trị tinh thân truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh lả người Việt Nam đầu tiên nhận thức và đánh giá đúng đắn vai trỏ, vị trí, sức mạnh của nhân dân với một chất lượng khoa học và cách mạng cao. Người nhắc nhở cán bộ, đảng viên “chủng ta phải ghi tạc vào đầu cái chân lý nảy: “dân rất tốt" [3§, tr 286.] Dân rất tốt là một chân lý, vỉ tuy đã bao đời chịu đựng gian khỏ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều năm chiến tranh. nhưng nhân dân ta rất anh hùng. dũng cảm, hãng hái.
Người còn khẳng định dân chúng khôn khéo; trí tuệ và sáng kiến của quản chúng là vô củng tận; “nhân dân trăm tai nghìn mắt vẫn có nhiễu ý kiển thông minh, có thể giúp cho các chú tiến bộ hơn. Công tác gì muốn làm tốt đều phải coi trọng ý kiến của nhân dân"{48, tr 668]. Nói về lòng đân, Hỏ Chí Minh đúc kết: “Ta được lòng dân thì ta không sợ gì cả. Nếu không được lòng dân thì ta không thể làm tốt công tác" [48, tr 142].
Chính của cải, sức mạnh, đạo đức, tài năng, lòng tin của dân đã tạo nên "cái gốc” của nước. Nhận thức sâu sắc vẽ cái "gốc" đó, Hỗ Chí Minh đúc kết: *Nước lấy dân làm gốc. Gốc có vững, cây mới bễn/Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân” [38]. Như vậy, lòng đân chính là "vận nước”.
Thứ hai, Hỗ Chỉ Minh khẳng định vai trỏ của dân trong sự nghiệp cách mạng và vị thể của dân trong chế độ mới. Nêu giai cấp phong kiến, giai cấp tư sản coi nhân dân chỉ là động lực, phương tiện cần huy 1g cho các cuộc đấu tranh thì Hồ Chi Minh khang định nhân dân là chủ thẻ vả là mục. tiêu của cách mạng. Người nhấn mạnh: Lâm cách mạng phải dựa vào dân nhưng làm cách mạng để mang lại hạnh phúc cho đân.
Người còn nâng quan điểm “Dân vi bản” vả truyền thống “thân dân” thành quan điểm “dân là chủ và làm chủ". Người khẳng định: Trong chế độ dân chủ, nhân dân mới là chủ 19 sở hữu mọi quyền lực. Nếu cụm từ “dân là chủ” nói đến địa vị cao nhất của. dân trong xã hội thì cụm từ *dân làm chủ” nói đến trách nhiệm và nghĩa vụ làm chú của dân.
Sự nghiệp cách mạng không chỉ của dân mà còn do dân; cho nên, bản thân quần chúng nhân dân phải cỏ đạo đức vả trách nhiệm công dân. Mặt khác, khi dân đã lả chủ thì tất cả cán bộ, kế cả Chú tịch nước, đều là đây tớ của dân. Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên phải nhận thức rõ vai trò “kép” của mình: Vừa là người đầy tớ trung thành, vừa là người lãnh. đạo sáng suốt nhưng “lãnh đạo là làm đầy tớ cho nhân dân và phải làm cho.
tốt” [48, tr 292] Thứ ba, Hỗ Chí Minh nhẫn mạnh yêu câu tắt cá cán bộ, đẳng viên phải gan dan, trọng dân, học dân, thật thà trước dân và yêu dân. Dân tộc Việt Nam da t6n tại hàng ngàn năm nhưng Đáng thì mới ra đời vào năm 1930. Điều đó có nghĩa Ì côi nguồn sức mạnh của Đảng nên muốn lãnh đạo dân, Đảng phải gần dân, lắng nghe dân, thấu hiểu dân để đề ra chủ trương, chính sách hợp lòng dân. Coi xa dân, quan liêu là những căn bệnh lớn nhất của đảng cẩm quyền nên Hồ Chí Minh đã viết: Đề nghị các vị Bộ trưởng nên luyện cho mình đôi chân hay đi, đôi mắt hay nhìn, cái óc hay nghĩ, không nên chỉ ngồi bàn giấy, theo kiểu “đạo nhân phòng thủ” [49, 110, tr 131] Không chỉ nhắn mạnh phương thức hoạt động của Đảng là "phải tử trong quần chúng ra, trở lai noi quần chúng” [47, tr 501 - 502].
Người còn cảnh báo: Nếu xa cách dân chúng thì nhất định thất bại. Sự “gần dân” trong quan niệm của Hồ Chí Minh không chỉ là gần về khoảng cách địa lý, tức là cán bộ phải bám sát cơ sở mà còn phải "gằn” về lối sống, mức sống, thậm chí là cán bộ, đảng viên phải có tinh than “tiên ưu hậu lạc”. Chỉ như thế nhân dân mới thấy đây là người đại diện của mình và cán bộ cũng mới hiểu rõ dân sinh, dân ý, dân tình. Dân là “gốc” của nước nên Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên 20 phải thực hành văn hóa trọng đân, trước hết là tôn trọng ý nguyện và quyền làm chủ của dân.
Người căn đặn *ÿ dân là ÿ trời”, dân muốn gì ta phải làm nấy. Sự tín nhiệm cúa dân luôn thẻ hiện chính xác năng lực, phẩm chất của cán bộ nên Đảng phải tôn trọng đánh giả của dân vẻ từng cán bộ để làm tốt công tác tổ chức. Do lực lượng của dân rất đông, trí tuệ của dân là vô tận nên cán bộ, đảng. viên phải thực sự cầu thị, khiêm tốn, học hỏi dân chúng.
Dân chính là người chịu tác động của mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nên việc xây dựng đường lối phải dựa trên ý nguyện của dân, tuyệt đối không được chủ quan, duy ý chỉ; nếu “nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì đề nghị họ sửa chữa” [39, tr 432]. Trong công tác lãnh đạo dân chúng, nếu cán bộ “có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân và hoan nghênh nhân dân phê bình mình” [39, tr 330]. Sự thành thực của cán bộ không chỉ làm dân thông cảm, tin yêu mà còn là cơ số để Đảng khắc phục hạn chế, ngày cảng trưởng thành hơn. Mọi tỉnh cảm bền vững phải dựa trên nguyên tắc hai chiểu nên Hỗ Chí Minh đã căn dặn cán bộ là, "chúng ta phải yêu dân, kính dân thỉ dân mới yêu ta, kính ta”.
Thứ tư, cán bộ, đảng viên của Đảng phải thực sự dựa vào dân để vì đân. “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”, vì vậy, cho đủ Đảng Cộng s là lực lượng dẫn đường nhưng "những người cộng sản chỉ là một giọt nước. trong đại dương, một giọt nước trong đại dương nhân dân” [59, tr 117]. Muôn thực hiện bắt cứ chiến lược nào, Đảng đều phải bàn bạc với đân, dựa vào dân, huy động sức mạnh trong nhân dân.
Không chỉ dựa vào dân, quan trọng hơn là Hồ Chí Minh đã coi lợi ích của dân là mục tiêu của cách mạng, lý tưởng của Đảng. Người nói rõ “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng. bảo sung sưởng” [41, tr 337].