Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Nghiên cứu về ngoại giao Hồ Chí Minh trong những năm 1945-1946 Ngoại giao Hồ Chí Minh những năm 1945 – 1946 có được sự quan tâm nghiên cứu của không ít học giả, nhìn chung các nghiên cứu của những học giả đó đưa ra có thể nhóm lại thành những mảng vấn đề như sau: 1. Những nội dung liên quan đến thực lực ngoại giao Hồ Chí Minh Ngoại giao tuyệt đối không thể không có thực lực. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, có rất ít tài liệu bàn về ngoại giao thời gian này lại đưa ra quan điểm chi tiết về nội dung thực lực cho ngoại giao.
Đề cập đến ngoại giao 1945-1946, tác giả Đức Vượng cho rằng thực lực ở đây cần hiểu là lực lượng của nhân dân và lực lượng quân sự [92, 115]. Đó là hai yếu tố cấu thành nên thực lực cho ngoại giao Hồ Chí Minh trong những năm tháng rất khó khăn này. Còn tác giả Vũ Dương Ninh, mặc dù không nói cụ thể, song, cho rằng thực lực giúp cho Việt Nam vượt qua những khó khăn ngoại giao lúc bấy giờ là việc quyền lực chính trị tối cao nằm trong tay lực lượng cách mạng và việc người dân tin vào Hồ Chí Minh, tin vào đường hướng của đất nước [97, 35-41]. Tác giả Lê Huy Bình khẳng định rằng thực lực cho ngoại giao lúc bấy giờ trước hết và cơ bản nhất là sức mạnh của nhân dân, sức mạnh của lòng dân.
Tác giả cho rằng Hồ Chí Minh cũng “rất coi trọng xây dựng bộ máy Nhà nước hợp pháp, hợp hiến để trong nước thì có chính quyền, điều hành công việc kháng chiến kiến quốc, đối với quốc tế thì có cương vị chính quyền Nhà nước chính thức để giao thiệp” [12, 78-79]. Và do đó, thực lực cho ngoại giao Việt Nam lúc bấy giờ là sự ủng hộ của người dân và sức mạnh pháp lý của quốc gia. Thực lực cho ngoại giao là cụm từ sử dụng rất phổ biến tại Việt Nam, còn các học giả trên thế giới lại chỉ sử dụng thuật ngữ sức mạnh (power) cho ngoại giao và có rất nhiều công trình bàn về nội hàm của sức mạnh. Việc không kết hợp những công trình nghiên cứu đã có của quốc tế về nội hàm “sức mạnh” phục vụ cho phân 7 z tích ngoại giao Hồ Chí Minh trong những năm 1945-1946 dẫn tới hiện trạng có quá ít công trình bàn đến và mới chỉ bàn một cách chung chung và bỏ sót rất nhiều chi tiết hết sức quan trọng về thực lực –sức mạnh cho ngoại giao Việt Nam.
Chính trị học quốc tế là lĩnh vực của sức mạnh, của đấu tranh và của thỏa hiệp [20, 168], ngoại giao là một lĩnh vực vô cùng đặc trưng của chính trị học quốc tế. Do đó không thể bàn về ngoại giao mà không bàn về sức mạnh của chủ thể. Thậm chí phải bàn về sức mạnh của bản thân chủ thể, bàn về sức mạnh tương quan giữa chủ thể với các chủ thể khác trước khi nói đến các biện pháp ngoại giao. Việc không có nhiều công trình phân tích sâu về sức mạnh ngoại giao Việt Nam trong những năm 1945-1946 là một thiếu sót rất lớn hiện nay.
Những nội dung liên quan đến phương thức ngoại giao Hồ Chí Minh Trong mảng vấn đề này, có ít công trình nghiên cứu phân tách ngoại giao Hồ Chí Minh với các đối tượng cụ thể như với Tưởng, với Pháp, với các chủ thể ngoài Pháp và Tưởng. Các công trình chủ yếu đều lồng ghép đánh giá chung ngoại giao Hồ Chí Minh thời kỳ này với các chủ thể quốc tế có liên quan tới Việt Nam. Do đó, trong mảng vấn đề này, có thể tạm phân chia một cách tương đối để khảo sát quan điểm của một số công trình nghiên cứu theo các nhóm như sau: Ngoại giao với Tưởng Tác giả Nguyễn Trọng Hậu trong Luận án tiến sĩ lịch sử về Hoạt động đối ngoại của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thời kỳ 1945-1950 cho rằng chính sách nhân nhượng với Tưởng là chính sách nổi trội trong quan hệ ngoại giao với chủ thể quốc tế này. Cụ thể hơn nữa trong chính sách “nhân nhượng” này, tác giả Lê Huy Bình cho rằng “nhân nhượng có nguyên tắc với quân Tưởng và tay sai” [12, 73] là điểm đặc trưng của Hồ Chí Minh trong phương thức ứng xử ngoại giao với đối tượng này trong những năm 1945-1946.
Cùng quan điểm với Lê Huy Bình khi cho rằng nhân nhượng có nguyên tắc là biện pháp ngoại giao lớn của Việt Nam đối với Trung Hoa, tác giả Vũ Dương Huân cho rằng còn hai nguyên tắc nữa cũng được coi là biện pháp ngoại giao lớn là biểu dương lực lượng và “lợi dụng mâu thuẫn”, “tránh xung đột” [47, 161]. Tác giả còn cho rằng biện pháp ngoại giao hòa với Pháp cũng là để đối phó với quân Trung Hoa lúc đó [47, 168]. 8 z Đối với tác giả Nguyễn Thị Kim Dung trong Luận án tiến sĩ lịch sử về Đảng lãnh đạo hoạt động đối ngoại thời kỳ 1945-1946 thì cho rằng sách lược ngoại giao nổi bật lúc đó là “hòa hoãn với Quốc dân đảng Trung Hoa” [24, 15]. Và cùng quan điểm này, tác giả Nguyễn Mạnh Hà khẳng định chủ trương nhất quán của Đảng và Hồ Chí Minh trong tình thế này là “tránh xung đột”.
Không chỉ dừng lại ở đó, tác giả còn cho rằng chủ trương của Đảng và Hồ Chí Minh lúc đó còn phải tiến tới “giao thiệp thân thiện”, “nhân nhượng tối đa” với quân Tưởng và “luôn luôn quán triệt phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong đối phó với quân Tưởng”. Tác giả giải thích rằng “dĩ bất biến, ứng vạn biến” ở đây nghĩa là “mọi sự có thể nhân nhượng, trao đổi được, trừ chủ quyền của đất nước” [158]. Ngoại giao với Pháp Cùng quan điểm với tác giả Nguyễn Trọng Hậu, tác giả Nguyễn Mạnh Hà cho rằng từ sau thời điểm quân Pháp tiến ra Bắc theo đúng Hiệp định sơ bộ 6/3/1946, đặc trưng ngoại giao của Việt Nam đối với Pháp là “hòa hoãn” nhằm “đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, giữ hòa bình càng lâu càng tốt nhằm xây dựng thực lực cho một cuộc chiến lâu dài với Pháp” [158]. Tác giả Nguyễn Thị Kim Dung cũng khẳng định rằng Việt Nam lúc đó nếu “ngăn cản quân Pháp vào Bắc Việt Nam thì sẽ bị cho là chống Liên Hợp Quốc” [24, 15].
Bên cạnh đó, Việt Nam vẫn phải đấu tranh ngoại giao với Pháp để giữ vững chính quyền và để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài [24, 15]. Tác giả Trần Thị Minh Tuyết khẳng định thông qua việc tiến hành những cuộc đàm phán hòa bình với Pháp, Việt Nam đã “ký kết được với Chính phủ Pháp hai văn kiện ngoại giao thể hiện về sự nhân nhượng với kẻ thù một cách có nguyên tắc” [121, 92]. Đây là hoạt động ngoại giao vô cùng quan trọng, mang tính hòa bình và đem lại hiệu quả lớn. Ngoại giao với các chủ thể ngoài Pháp và Tưởng Năm 1945-1946, bên cạnh hai chủ thể chính trị quan trọng nhất là Pháp và Tưởng mà Việt Nam cần đấu tranh ngoại giao, còn có những chủ thể quan trọng khác cũng liên quan nhiều tới Việt Nam mà một số tác giả cũng quan tâm phân tích.
9 z Tác giả Nguyễn Trọng Hậu trong Luận án tiến sĩ lịch sử về Hoạt động đối ngoại của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thời kỳ 1945-1950 cho rằng hoạt động ngoại giao của Việt Nam lúc này đối với các chủ thể ngoài Pháp và Tưởng gồm có: “Tranh thủ sự ủng hộ của Mỹ và Liên Hiệp quốc đối với nền độc lập của Việt Nam; tranh thủ sự ủng hộ của Liên xô; tăng cường tình đoàn kết hữu nghị với các nước trong khu vực và trên thế giới”. Cùng quan điểm trên, tác giả Nguyễn Thị Kim Dung bổ sung thêm rằng Việt Nam tranh thủ sự ủng hộ của Mỹ và Liên hợp quốc là chưa đủ, mà còn phải giữ quan hệ với Mỹ (bởi mối quan hệ này có từ trước Cách mạng Tháng Tám) và chủ động tìm kiếm sự ủng hộ của Mỹ và Liên hợp quốc đối với nền độc lập của Việt Nam [24, 15]. Đồng quan điểm với hai tác giả trên, tác giả Đặng Văn Thái khẳng định việc Chủ tịch Hồ Chí Minh “đã có nhiều hoạt động tìm kiếm sự ủng hộ của Liên hợp quốc” [109, 32]. Nhưng đối với hoạt động ngoại giao với Mỹ và Liên hợp quốc, tác giả đưa ra quan điểm chi tiết hơn, đó là Chủ tịch Hồ Chí Minh và các lãnh đạo Việt Nam “chủ trương duy trì quan hệ với Mỹ, khai thác triệt để mâu thuẫn Mỹ - Tưởng và Anh – Pháp, tìm kiếm và tranh thủ sự ủng hộ của Mỹ, hoặc ít nhất cũng lợi dụng mâu thuẫn Mỹ - Pháp để hạn chế các âm mưu xâm lược, thôn tính Việt Nam của thực dân Pháp và Trung Hoa Quốc dân Đảng” [109, 35].
Tác giả còn bổ sung quan hệ ngoại giao với các nước khác trong khu vực, cụ thể là “quan hệ thân thiện với các nước Đông Nam Á và Nam Á, trong đó có Lào, Campuchia, và các nước trong khu vực như Thái Lan, Ấn Độ” [109, 42-47]. Tuy nhiên, tác giả tách biệt ngoại giao với Đảng Cộng sản và nhân dân Pháp khỏi quan hệ ngoại giao với Pháp để phân biệt hai chủ thể này với lực lượng thực dân Pháp xâm lược. Còn tác giả Nguyễn Mạnh Hà khẳng định việc chủ động đặt quan hệ ngoại giao với Mỹ trong bối cảnh Việt Nam chưa nhận được bất kỳ sự trợ giúp nào trên thế giới là điểm nổi bật nhất trong ngoại giao những năm 1945-1946 [158]. Nhìn chung các tác giả đều tập trung vào phân tích và đánh giá cao mối quan hệ ngoại giao với Liên hợp quốc và đặc biệt là Mỹ lúc bấy giờ.
Còn các chủ thể quốc tế khác có liên quan đều ít được quan tâm nghiên cứu, phân tích. Đây cũng không hẳn là thiếu sót trong nghiên cứu, bởi các chủ thể như Tưởng, Pháp, Mỹ, Liên xô, 10 z Anh là những chủ thể có vai trò quan trọng quyết định nhất đối với các mục tiêu và cách thức đấu tranh ngoại giao của Việt Nam trong lúc đó. Phương thức ngoại giao với tất cả các lực lượng quốc tế nói chung: Nhận định về phương châm, chính sách, sách lược ngoại giao Hồ Chí Minh với các lực lượng quốc tế nói chung trong những năm 1945-1946 là điều phổ biến trong nhóm các tài liệu viết về ngoại giao thời gian này.