phần mở đầu, phần kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung luận văn được kết cấu thành 02 chương, 05 tiết. 7 z Chƣơng 1 TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC VÀ SỰ VẬN DỤNG TRONG CÁC TRƢỜNG CÔNG AN NHÂN DÂN 1. Quan niệm của Hồ Chí Minh về đạo đức và giáo dục đạo đức 1. Quan niệm của Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng Theo quan niệm thông thường, đạo đức còn được xem là khái niệm dùng để chỉ luân thường đạo lý của con người gắn với những giá trị và hành vi ứng xử trên các tiêu chí tốt, xấu, đúng, sai…, và cũng còn được sử dụng với một số hàm nghĩa khác: luân lý, lương tâm, các chuẩn tắc ứng xử đạo đức.
Đời sống, phương diện đạo đức là đối tượng và nội dung rất quan trọng và được quan tâm rất sớm của triết học. Nghiên cứu hiện tượng đạo đức, triết học nhấn mạnh khía cạnh sau: Đạo đưc với tư cách là hình thái sớm nhất của ý thức xã hội; là hệ giá trị và hệ thống các quy tắc, thể thức kiểm soát và thực hiện hành vi của con người trong đời sống cộng đồng dưới sự quán xuyến của chủ nghĩa nhân văn. Những cặp phạm trù có tính tương phản như “thiện và ác”, “lòng trắc ẩn và vô cảm’, “vô thượng và vị lợi”… được bàn đến như công cụ nhận diện cái bản chất của các quan hệ đạo đức. Nhưng làm thế nào và bằng cách nào để các giá trị và các chuẩn mực đạo đức của xã hội có thể chuyển thành những giá trị và chuẩn mực hành vi của các cá thể, ngày nay chúng ta có thể thấy những đóng góp quan trọng của các nghiên cứu bởi nhiều khoa học cụ thể khác như đạo đức học, giáo dục học, văn hóa học… Đóng góp của chủ nghĩa Mác-Lênin trong nghiên cứu đạo đức không chỉ ở phương diện xem nó là một trong những hình thái của ý thức xã hội, tức là yếu tố tạo nên kiến trúc thượng tầng của xã hội và bị quy định bởi cơ sở hạ tầng như thế nào, mà với tư cách là hệ giá trị và những chuẩn mực xã hội điều chỉnh hành vi của con người trong quan hệ với người khác và với công đồng.
Căn cứ vào 8 z những chuẩn mực ấy, người ta đánh giá hành vi của mỗi người theo các quan niệm về thiện và ác, về cái không được làm (vô đạo đức) và cái nghĩa vụ phải làm. Khác với pháp luật, phương thức điều chỉnh của đạo đức không phải bằng quyền lực, bằng tính cưỡng chế của nhà nước, mà được mọi người thực hiện do sự thôi thúc của lương tâm cá nhân và dư luận xã hội. Đạo đức ra đời và phát triển do nhu cầu của xã hội phải điều tiết mối quan hệ giữa cá nhân và hoạt động chung của con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong đời sống con người và xã hội loài người, mọi ý thức, quan hệ và hành vi của con người được diễn ra, được thể hiện rất đa dạng và phong phú.
Con người không chỉ là chủ thể của những hoạt động sản xuất vật chất, mà còn là chủ thể của các hoạt động tinh thần phong phú trong đời sống xã hội. Trong cuộc sống, con người luôn luôn xây dựng cho mình những lý tưởng sống và những chuẩn mực đạo đức, giúp con người tự giác hành động nhằm vươn tới những giá trị chân, thiện, mỹ. Đạo đức với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, là toàn bộ những quan điểm, nguyên tắc, chuẩn mực nhằm điều chỉnh ý thức và hành vi của con người trong mối quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội. Xét về phương diện xã hội cũng như phương diện hành vi của mỗi cá nhân, đạo đức là sự thể hiện quan hệ ứng xử và hành vi của con người, đem lại lợi ích cho người khác và cho xã hội.
Đạo đức thuộc lĩnh vực đời sống tinh thần, và nó là một bộ phận của thượng tầng kiến trúc xã hội, có cơ sở từ tồn tại xã hội; mặt khác xét về những tiêu chuẩn giá trị, thì những giá trị đạo đức lại nằm ở trong hình thái ý thức. Đạo đức phản ánh đời sống xã hội và nảy sinh do nhu cầu của đời sống xã hội mà trước hết là những nhu cầu phối hợp hành động trong lao động sản xuất vật chất, trong phân phối sản phẩm, trong đấu tranh xã hội để tồn tại và phát triển. Cùng với sự phát triển của sản xuất, của các quan hệ xã hội, hệ thống các 9 z quy tắc đạo đức, chuẩn mực đạo đức ngày càng phát triển, ý thức đạo đức cũng theo đó mà ngày càng nâng cao, phong phú, đa dạng và phức tạp. Đạo đức là một hiện tượng lịch sử và xét cho cùng là sự phản ánh của các quan hệ xã hội.
Có đạo đức của xã hội nguyên thủy, đạo đức của chế độ chủ nô, đạo đức phong kiến, đạo đức tư sản, đạo đức cộng sản. Trong xã hội có giai cấp, đạo đức có tính giai cấp, đồng thời đạo đức cũng có tính kế thừa nhất định. Các hình thái kinh tế-xã hội thay thế nhau, nhưng xã hội vẫn giữa lại những điều kiện sinh hoạt, những hình thức cộng đồng chung và đều lên án cái ác, tính tàn bạo, tham lam, hèn nhát, phản bội, đồng thời ca ngợi những cái thiện, sự dũng cảm, chính trực, độ lượng, lòng nhân đạo. Trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, chúng ta có thể đi đến định nghĩa về đạo đức như sau: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, bao gồm một hệ thống những quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội.
Nó ra đời, tồn tại và biến đổi từ nhu cầu của xã hội. Nhờ đó, con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân và xã hội” [59, tr. Từ định nghĩa này ta rút ra 3 điểm cần chú ý: Một là: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội bị chi phối bởi điều kiện kinh tế, xã hội và lịch sử. Hai là: Sự điều tiết hành vi của đạo đức mang tính tự giác của con người, mà cơ sở của sự tự giác đó ngoài vai trò của yếu tố ý thức, yếu tố sâu xa đó là lòng trắc ẩn và không vị lợi.
Ba là: Tiêu chuẩn giá trị của đạo đức được thể hiện trong giải quyết một cách phù hợp và đúng đắn mối tương quan về mặt lợi ích: lợi ích của cá nhân, lợi ích của xã hội. 10 z Lịch sử phát triển của xã hội loài người từ xưa đến nay đã khẳng định vai trò to lớn của đạo đức trong việc duy trì trật tự, ổn định và phát triển xã hội. Đạo đức có tác dụng điều chỉnh ý thức và hành vi của con người cho phù hợp với yêu cầu chung của xã hội, hướng con người hoàn thành tốt nghĩa vụ đối với xã hội. Đạo đức còn có tác dụng cảm hoá con người, giúp con người nhận thức và hành động theo lẽ phải, duy trì mối quan hệ tốt đẹp giữa người và người.
Đồng thời đạo đức còn giúp con người sáng tạo ra hạnh phúc, giữ gìn phẩm giá làm thức dậy trong con người những tình cảm tốt đẹp, đó là lòng nhân ái, tính trung thực, thẳng thắn. Đạo đức có vai trò tích cực trong đời sống xã hội, nó như một sức mạnh thôi thúc con người đấu tranh chống lại những cái ác, cái xấu, những cái đi ngược lợi ích của xã hội, nó giữ gìn và phát triển những cái tốt, cái thiện, làm cho xã hội ngày càng phát triển. Trên cơ sở vận dụng thế giới quan và phương pháp luận chủ nghĩa Mác- Lênin, xuất phát từ đặc điểm xã hội và con người Việt Nam, ngay từ đầu của cuộc cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng nền đạo đức mới - đạo đức cách mạng ở nước ta. Trong một số trường hợp, Người gọi đó là: đạo đức mới, đạo đức cách mạng, đạo đức XHCN.
Cụm từ được Hồ Chí Minh sử dụng nhiều nhất là đạo đức cách mạng. Đạo đức cách mạng theo cách gọi của Hồ Chí Minh là đạo đức mới, đạo đức cộng sản ở Việt Nam. Hồ Chí Minh cho rằng: “Đạo đức cách mạng là tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân” [53, tr.604]; “Đạo đức cách mạng là vô luận trong hoàn cảnh nào, cũng phải quyết tâm đấu tranh chống mọi kẻ địch, luôn luôn cảnh giác, sẳn sàng chiến đấu, quyết không chịu khuất phục, không chịu cúi đầu. Có như thế mới thắng được địch và thực hiện được nhiệm vụ cách mạng.
Hay “Đạo đức cách mạng là hòa mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến quần chúng”[53, tr. 11 z Như vậy, đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh là một phạm trù rộng lớn, bao trùm nhiều mặt trong đời sống của xã hội nói chung và của từng cá nhân nói riêng. Ngay từ khi bước vào con đường cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ý thức rất rõ ràng và sâu sắc vai trò của đạo đức cách mạng đối với sự nghiệp cách mạng. Theo Người đạo đức cách mạng khác hẳn về chất so với đạo đức cũ.
Người nói: “Đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất, chân chổng lên trời. Đạo đức mới như người hai chân đứng vững được dưới đất, đầu ngẩng lên trời”[49, tr. Tuy không làm chức năng của người nghiên cứu lý thuyết là xây dựng khái niệm hoàn chỉnh về đạo đức cách mạng, song trong những bài nói, bài viết của mình, Hồ Chí Minh đã đề cập đến nội hàm của khái niệm đạo đức cách mạng một cách toàn diện về vai trò, về nội dung, về phương thức hiện thực hóa nó trong đời sống xã hội , và thậm trí cụ thể hóa cho từng đối tượng. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng bao gồm những nội dung cốt lõi, đó là trung với nước hiếu với dân; yêu thương con người; cần kiệm liêm chính, chí công vô tư và tinh thần quốc tế trong sáng.
Trung với nước hiếu với dân Phẩm chất đạo đức quan trọng nhất, bao trùm nhất của con người Việt Nam là trung với nước, hiếu với dân. Theo quan điểm truyền thống, trung là trung quân, là trung thành với vua, là trung thành với nước. Ở đây vua với nước là một.