Chương 1: Tổng quan về huyện Chương Đức (trấn Sơn Nam Thượng) và nguồn tài liệu địa bạ Chương 2: Đơn vị hành chính và các loại hình ruộng đất của huyện Chương Đức (trấn Sơn Nam Thượng) đầu thế kỷ XIX qua tài liệu địa bạ Chương 3: Sở hữu ruộng đất tư nhân và sự phân hóa xã hội ở huyện Chương Đức (trấn Sơn Nam Thượng) đầu thế kỷ XIX qua tài liệu địa bạ 18 CHUONG 1: TONG QUAN VE HUYỆN CHƯƠNG ĐỨC (TRAN SON NAM THƯỢNG) VÀ NGUON TÀI LIEU DIA BA 1.1 Tổng quan về huyện Chương Đức 1.T Vi trí địa lý, địa hình và điều kiện tự nhiên Vi trí địa lý của huyện Chương Đức được sách Dai Nam nhất thong chi chép: “Huyện Chương Đức ở cách phủ Ứng Hòa 14 dam về phía Đông Nam; đông tây cách nhau 22 đặm, nam bắc cách nhau 28 đặm. Phía Đông đến địa giới huyện Thanh Oai 7 đặm, phía Tây đến địa giới huyện Mĩ Lương tỉnh Sơn Tây 15 đặm, phía nam đến địa giới huyện Hoài An và địa giới huyện Gia Viễn tỉnh Ninh Bình 56 dam, phía bắc đến địa giới huyện Yên Sơn 22 dam” [15, tr. Huyện Chương Đức xưa, nay phần lớn thuộc địa phận huyện Chương Mỹ và một phần các huyện Mỹ Đức, Ứng Hòa, nằm về phía Tây Nam thành phố Hà Nội. Chương Đức là vùng đất cổ, được hình thành nhờ sự vận động “tân kiến tạo” [150, tr.
95] địa chất hàng vạn năm, tạo ra địa hình mang những đặc điểm khác biệt so với các tỉnh thuộc đồng bằng Bắc Bộ. Vùng đất này mang trong mình những đặc trưng của đồng bằng, đồng thời có những đặc trưng của vùng bán sơn địa, trong lòng đồng bằng vẫn có sự tồn tại của các đỉnh núi tương đối cao. Vùng đồng bằng khá thấp, bằng phẳng có độ nghiêng nhỏ chỉ dưới 10cm/km, độ nghiêng là từ Tây sang Đông và từ Bắc xuống Nam, độ cao trung bình của bề mặt đồng bằng là từ 2 đến 10m, đặc biệt một số khu tring chỉ 0. Chương Đức được hình thành bởi sự miệt mài bồi đắp phù sa mới của hệ thống các sông Bùi, sông Tích phía Tây, sông Đáy bao bọc phía Đông của huyện.
Theo các nhà địa lý học, ven các lòng sông còn lại nhiều sống đất tự nhiên mà các con sông đã bồi vào mùa lũ và sau đó đã bị cắt xẻ tạo ra những gò đồi rải rác, xếp thành day dài hai bên bờ sông, tạo ra những khoảng không gian cao ráo giúp con người làm nơi cư trú. Qua thời gian, với sự can thiệp của con người trong việc dap đê trị thủy đã biến vùng đồng bằng thấp này thành những ô trũng, bị vây kín bởi hệ thống đê bao tạo ra những “rốn nước”. Tại huyện có “Dé sông Hat:. huyện Chương Đức trước đắp 6.460 trượng, đời Gia Long đắp 135 trượng, đời Minh Mệnh đắp 405 trượng” [15, tr.
Việc phù sa của những con sông bồi đắp là điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp của huyện. Tuy nhiên, hệ thống đê bao đã tạo ra 19 những vùng tring thấp trong lòng đồng bằng, đó là một trở ngại khi mùa mưa lũ, cùng với một lượng nước rất lớn từ các đồi núi, các khe suối dé về đã biến vùng đất nay bi ngập sâu, khiến cho việc canh tác gap nhiều khó khăn. Ngoài ra, vùng đồng bằng còn lại nhiều khúc sông cụt đã thành hồ đầm, có nơi 6 tang sâu đã hình thành những via than bùn, như ở hầu hết tầng sâu của vùng phù sa cổ. Bên cạnh đó, trên bề mặt đồng bằng có ngọn núi sót như núi đá vôi Tử Trầm, ngọn núi này nằm giữa đồng bang thuộc xã Ninh Sơn tổng Chúc Sơn (nay là xã Phụng Châu huyện Chương Mỹ).
Núi Tử Trầm kết nối với núi Sài Sơn của phủ Quốc Oai tạo thành dãy núi đá vôi Sài Sơn - Tử Trầm, người xưa hay gọi là “Thập lục kỳ sơn”. Cụm núi sót này được nhà sử học Phan Huy Chú ghi lại “Ninh Sơn ở về miền trên huyện Chương Đức, trông xuống dong sông Hát, phong cảnh âm u thanh nhã, khi trước Hy - tổ Trịnh [Cương] thường làm hành cung ở trên đỉnh núi để làm chỗ đến chơi” [1, tr. Bên cạnh ngọn Ninh Sơn, còn có ngọn Chúc Sơn cũng đã được Phan Huy Chú ghi lại “Chiic Sơn ở bên hữu núi Ninh - Sơn, có ngọn núi tròn nổi lên, xung quanh có nhiều rừng vây bọc. Đứng trên núi trông ra bốn bên, phong cảnh thoáng rộng”[1, tr.
Cũng theo Phan Huy Chú, ghi trong Lịch triều hiến chương loại chí thì ở làng Cống Khê (nay là xã Hồng Sơn huyện Mỹ Đúc) cũng có núi Tượng Sơn: “Tượng sơn ở làng Công Khê huyện Chương Đức, đột nhiên mọc ra ở nơi đồng bằng, hình thế tôn nghiêm, đứng đối ngạn với các núi ở huyện Hoài An, phong cảnh ở đây cũng là một chỗ đáng thưởng thức. Tĩnh Vương Trịnh [Sâm] có vịnh thơ: Tòng thiên vạn mã liệt trùng loan. Ai đáo bình tân khởi Tượng - san. Thạch chủy sương phì thiêm xuất sắc.
Mộc nha tuyết sấu thượng lưu ban. Ling đâu dau hoạch tình trung hiện. Nham phúc vân phi vũ hậu khan. Đông triệt nhận lai dương vui tích.
Vi thân hán phủ thí su can. [Dịch] Nhiéu lượt múi đứng bày hàng như muôn con ngựa từ trên trời xuống. 20 Đến chỗ bãi đất bằng phẳng thì nổi lên Tuong - son. Giọt sương bám đầy vào mém đá, làm cho sắc thêm đẹp ra.
Mua tuyết bám đây vào mam cây, còn để vết lại. Lic trời quang tanh, trông lên thấy ánh sáng sao đấu ở trên đâu thung lũng. Sau khi mưa thì thấy đám mây ở giữa múi tan di. Nhó khi trước xe đi đánh dep về phía Đông, làm cho oai võ rực rỡ.
Cot để tỏ rỏ thé quân hùng mạnh, giết quân giặc đã nhờn cả lưỡi búa của triéu đình ” [1, tr. Bài thơ này được dịch giả Trương Sỹ Hùng tạm dịch như sau: Nui như đàn ngụa trời cho Tượng Sơn đất phẳng, nồi to khác thường Long lạnh mom đá giọt sương Mam cây tuyết dong còn Vương sớm ngày Trong xanh sao Đẩu, gác cây Sau mưa rỡ: cảnh đám mây tan dân Oai dep phía Đông ghi ân Bua rìu triều chính vẫn can hùng binh [122, tr. Qua sự miêu ta của người đương thời, cũng như những dấu tích người xưa để lại cho thấy vùng đất này mang nhiều đặc điểm khác biệt so với vùng đồng bằng châu thé Bắc Bộ với những ngọn núi sót còn lại trên bé mặt đồng bằng. Bên cạnh cụm núi sot, tại Chương Đức còn có sự hiện diện của vùng bậc thềm phù sa cổ, bạc màu và đá ong hóa.
Ngoài các đồi phù sa cổ, thi thoảng xen vào một số đối phiến thạch cao hơn, hiện nay được phân bồ lẻ té giữa các gò ở hai huyện Chương Mỹ và Mỹ Đức [150, tr. Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, ngoài những thay đổi địa giới hành chính, có những biến đổi về địa hình dưới tác động từ thiên nhiên cùng với các hoạt động sống của con người, địa hình Chương Đức ngày nay không còn giống như những mô tả của người xưa. Ví dụ như nói về cụm núi sót “Thập lục kỳ sơn”, các nhà địa lý đã miêu ta: “Quan thé núi đá này có chân dé rộng đã bị phù sa sông đáy phủ lấp phần lớn. Nhưng đáng tiếc là “Thập lục kỳ sơn” nay không còn nguyên vẹn, chỉ còn lại có tám ngọn thôi” [150, tr.
Sự bồi đắp của những dòng sông cũng đã góp phần vào sự hình thành vùng đất này, đó là sông Hát (nay là sông Đáy) và sông Bùi. Các tài liệu của triều Nguyễn cũng đã mô tả cu thé hai dòng sông này và vai trò đối với cư dân Chương Đức. Đại Nam nhất thong chí và Đồng Khánh dia du chi ghi chép về dòng sông Day như sau: “Sông Hái: ở cách tỉnh thành 9 đặm về phía Tây Nam, là phân lưu của sông Nhị (xem Sơn Tay tinh chi); nước sông từ bãi Yên Trung huyện Dan Phượng tỉnh Sơn Tây chảy về phía Tây Nam huyện Từ Liêm thuộc tỉnh hạt, chảy qua huyện Thanh Oai đến xã Phù Yên huyện Chương Đức thì gặp nước sông Bui ở phía Tây chảy đến, lại chảy qua huyện Sơn Minh, đến xã Dục Khê huyện Hoài An thì có sông Thường Vệ, lại chảy từ đây qua các tổng Tiên Xá và Đội Sơn, rồi lại đỗ về sông Nhị, quanh co 232 dặm, thượng lưu có thể đi thuyền được trong khoảng mùa hè mùa thu, còn mùa đông xuân thì nước cạn” [15, tr. Tiếp đến: “Một đoạn sông vừa là sông Hát: chia dong từ sông cái Nhị Hà chảy qua phía bên trái huyện hạt (trên từ chỗ bên phải là bến sông xã Xuyên Cốc thuộc bản huyện, bên trái là xã Nga My huyện Thanh Oai), chảy xuôi xuống (đến chỗ bến sông xã Kinh Đào thuộc bản huyện, bên trái là bến sông xã Tử Dương huyện Sơn Minh), dài 22 dặm 120 trượng; ở chỗ bên phải là xã Phù An, bên trái là xã Lưu Xá rộng 28 trượng 5 thước, sâu 2 trượng 8 thước” [27, tr.
Cũng theo hai tài liệu trên, dong sông Bùi được mô tả “Sông Bài: ở phía Bắc huyện Chương Đức, có tên nữa là sông Yên Duyệt, nguồn từ núi Tản Viên chảy xuống (tức là hạ lưu sông Tích Giang, xem Sơn Tây tỉnh chí) qua xã Yên Duyệt huyện Tùng Thiện đến huyện Mĩ Lương, rồi chảy vào phía Tây bắc huyện Phù Yên thì hợp lưu với sông Hát” [14, tr. Dong Khánh địa du chi cũng có chép về sông Bùi: “Một đoạn sông nhỏ là sông Bùi từ tỉnh hạt Sơn Tây chảy xuống phía bên phải huyện hạt, phía trên bến đò xã Chi Nê huyện Mỹ Lương, chảy xuống đến xã Lưu Xá thuộc bản huyện (tục gọi là Ngd Ba Thd, nơi sông Bùi và sông Hát hop dòng), dài 30 dam 40 trượng, độ rộng (ở chỗ bên trái xã Phúc Lâm, bên phải là xã Lưu Xá) 10 trượng 5 thước, sâu | trượng 6 thước” [27, tr. Ngoài hai con sông kể trên, theo Đông Khánh địa dv chí trên địa bàn huyện Chương Đức còn có “Một dong khe nhỏ (tục gọi là Séng Đóc): bắt nguồn từ khe núi xã Cao Đăng, chảy qua hai xã, trại Hanh Lợi, Vĩnh Lãng, đến giáp xã Đoan Nữ thì dừng, dai 6 dặm 92 trượng 3 thước, độ rộng (ở chỗ Cửa Suối) là 3 trượng, sâu 6 22 thước” [27, tr.