CHƯƠNG 1: SƠ LƯỢC LỊCH SỬ ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HOÁ TRUNG QUỐC Ở VIỆT NAM Trong những nước có liên quan chặt chẽ về văn hoá với Trung Quốc như Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam là một nước có quan hệ mật thiết nhất với Trung Quốc về mặt văn hoá. Cũng có thể nói, trong những nước đó, Việt Nam là một nhà nước chịu ảnh hưởng sâu sắc nhất của văn hoá Trung Hoa. Sự ảnh hưởng này đã thâm nhập vào nhiều mặt của xã hội Việt Nam như ngôn ngữ, chế độ xã hội, phong tục tập quán V. Theo thống kề của các học giả, trong tiếng Việt hiện đại bây giờ tồn tại khoảng 60-70% từ Hán Việt[37, tr.
Có thể nói nền văn hoá Việt Nam đã mang trong mình dấu vết của văn hoá Trung Hoá. Nguyên nhân hình thành hiện tượng này là gì? Quan hệ giao lưu văn hoá giữa hai nước là như thế nào? Để tìm hiểu thêm những vấn đề đó, ở đây, chúng tôi xin dành một chương để nhìn lại lịch sử giao lưu văn hoá giữa Trung Quốc và Việt Nam. Mối quan hệ giao lưu giữa Trung Quốc và Việt Nam được bắt đầu rất sớm. Trong sử sách Trung Quốc và Việt Nam đều có rất nhiều ghi chép về những hoạt động giao lưu giữa Trung Quốc và Việt Nam từ thời cổ đại xa xưa.
Theo Sử Ký- Ngũ Đề bản ký ghi chép rằng: Chuyên Hức "Phía bắc tới U Lăng, phía Nam tới Giao Chỉ, phía Tây tới Lưu Sa, Phía Đông tới Phan Mộc." Trong Mộc Tử- Tiết dụng nói: "Ngày xưa Nghiêu thống trị thiên hạ, miền Nam ở tận Giao Chỉ, miền Bắc tới Ư Đô." [Dẫn theo 30, tr. 12-13] Trong sử sách Việt Nam cũng có nhiều ghi chép như: Đại Việt sử ký toàn thư ghi rằng: Thời Hoàng Đế dựng muôn nước, cho Giao Chỉ ở về phía Tây Nam, ở xa người đất Bách Việt. Vua Nghiêu sai Hi Thị đến Nam Giao, để định đất Giao Chỉ ở phương Nam. Vua Vũ chia chín châu thì đất Bách Việt thuộc về khu Châu Dương, Giao Chỉ thuộc về đấy.
Thời Thành Chu mới gọi là Việt Thường Thị, tên Việt bắt đầu từ đấy[78, tr. Tuy những ghi chép trên mang màu sắc truyền thuyết rất nặng, nhưng từ đó chúng tôi được biết ở thời cổ đại xa xưa Trung Quốc và Việt Nam đã có quan hệ rất thân mật. Văn hoá Hoà Bình do nhà khảo cổ học Pháp M. Colani phát hiện vào năm 1926 - năm 1927, cũng như văn hoá Bắc Sơn được phát hiện vào năm 1924 tại phía Đông Bắc Hà Nội có chỗ giống nhau với văn hoá Ba Thục Trung Hoá.
Văn hoá Ba Thục là một nền văn hoá chịu ảnh hưởng lâu đời của nền văn hoá lưu vực Hoàng Hà. Từ đó, chúng ta cũng biết được, lịch sử giao lưu văn hoá giữa Trung Quốc và Việt Nam đã rất lâu đài. Tuy nhiên, tới thời nhà Tần, hoạt động giao lưu giữa hai nước Trung-Việt trên qui mô lớn mới được bắt đầu. Hoạt động giao lưu có thể được chia thành hai giai đoạn lấy đầu thế kỷ X làm giới hạn.
Giai đoạn một là hoạt động giao lưu hai nước trước khi Việt Nam giành được độc lập. Trong giai đoạn này, Việt Nam tiếp nhận văn hoá Trung Quốc một cách bị động. Giai đoạn hai là sau khi Việt Nam giành được độc lập, trong giai đoạn này Việt Nam chủ động tiếp nhận văn hoá Trung Quốc. Dưới đây, chúng tôi sẽ đi sâu vào hai giai đoạn trên.
Do nhiệm vụ của luận văn, chúng tôi chủ yếu nói về ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa đối với văn hoá Việt Nam.1 Ảnh hưởng của văn hoá Trung Quốc ở Việt Nam trước thế kỷ X 1.1 Bối cảnh lịch sử Năm 221 trước công nguyên, nhà Tần thống nhất Trung Quốc. Năm 214 trước công nguyên, Tần Thúy Hoàng "phát quân đánh lấy đất Lục Lương, đặt làm ba quận Nam Hải, Tượng và Quế Lâm.49] Trong đó quận Tượng bao gồm một phần tỉnh Quảng Tây Trung Quốc, miền Bắc và Trung bộ của Việt Nam hôm nay. Năm 207 trước công nguyên, nhà Tần diệt vong. Triệu Đà "đánh được An Dương Vương rồi, sáp nhập nước Âu Lạc vào quận Nam Hải, lập thành một nước gọi là Nam Việt, tự xưng làm vua, tức là Vũ Vương".17] Năm 111 trước công nguyên, Nhà Hán diệt Nam Việt, đặt chín quận.
Trong đó có quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam trong vùng Bắc Trung bộ của Việt Nam hôm nay. Từ đó, Việt Nam nằm dưới sự thống trị của nhà Hán, và bắt đầu lịch sử Bắc thuộc kéo dài hơn một ngàn năm. Nhà Hán phái quan lại sang quản lý ba quận trên. Bởi vì vị trí địa lý quan trọng, cho nên ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam đã trở thành cửa khẩu giao lưu với những nước khác.
"Thời nhà Hán, ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam, không những có đường giao thống đường thúy đường bộ với nội địa, để thực hiện sự giao lưu kỉnh tế, văn hoá, mà còn là một trong những điểm xuất phát trên đường giao thông biển của nhà Hán với các nước Đổng Nam Á, Tây Á.4] Những điều này đã thúc đẩy sự giao lưu giữa Trung Quốc và Việt Nam. Nhà Tây Hán đặt Giao Chỉ Thích Sử Bộ, sang đời Đông Hán, đổi thành Giao Châu Thích Sử Bộ. Chính phủ Đông Hán quản lý chặt chẽ hơn đối với Giao Châu, gây ra sự mâu thuẫn giữa quan lại Đông Hán với thủ lĩnh dân tộc bản địa. Các địa chủ dân tộc Hán bóc lột nhân dân địa phương một cách hà khắc, cuộc sống nhân dân ngày càng đau khổ.
Ngoài ra, nhà Hán thực thi chính sách "đồng hoá" tại vùng này, ép buộc nhân dân về mặt tinh thần. Điều này đã tăng thêm nỗi đau khổ của nhân dân bản địa. Năm 40 sau công nguyên, cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng bùng nổ. Cuộc khởi nghĩa được sự ủng hộ của những quận Cửu Chân, Nhật Nam và Hợp Phố.
Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng giành được thắng lợi trong thời gian ngắn, Trưtig Trắc xiữig làm vua, đóng đô ở Mê Linh. Hai năm sau, năm 42 nhà Đông Hán sai tướng Mã Viện làm Phục ba tướng quân dẫn quân sang đánh Trưng vương. Cuộc khỏi nghĩa Hai Bà Trưng thất bại. Sau đó, ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam lại trở về tay của nhà Đông Hán.
Từ thời cuối nhà Đông Hán, tình hình ở vùng Trung Trung Quốc cực kỳ rối loạn, cuộc sống của nhân dân rất gian khổ. Thế nhưng dưới sự quản lý của Sĩ Nhiếp, thái thủ Giao Chỉ, "ở trong buổi đại loạn, giữ vẹn một quận hơn 20 năm, bờ cõi không xảy ra việc gì, dân vẫn yên nghiệp"[8, tr.100], sự nghiệp văn hoá giáo dục cũng được phát triển. Sĩ Nhiếp "độ lượng khoán hậu, khiêm tốn kính trọng kẻ sĩ. Danh sĩ nhà Hán tránh nạn sang nương tựa có hàng trăm người.98-99] Từ đó Giao Chỉ trở thành một trung tâm giao lưu văn hoá.
Điều này đã thúc đẩy sự truyền bá của văn hoá Trung Quốc tại Giao Chỉ. Năm 544, Lý Bôn khởi nghĩa phản kháng sự thống trị của Nhà Hán, giành thắng lợi và tự xứng là Nam Việt đế, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân. Năm 589, Nhà Tuỳ thống nhất Trung Quốc. Năm 602, nhà Tùy sang xâm lược, nước Vạn Xuân 60 năm bị thôn tính.
Từ đó ba quận Giao Chỉ một lần nữa chịu sự thống trị của triều đình phong kiến Trung Quốc. Năm 679, vua Cao Tông nhà Đường đặt An Nam Độ Hộ Phủ. Nước Việt Nam gọi là An Nam khởi đầu từ đấy. Lúc đó, mọi chế độ chính trị, kinh tế, giáo đục và văn hoá của An Nam đều giống với Trung Quốc.
Các quan chức địá phương của An Nam đều do triều đình nhà Đường trực tiếp bổ nhiệm. Đặc biệt là An Nam đã thực hiện chế độ khoá cử giống với Trung Quốc, người An Nam có cơ hội vào triều đình nhà Đường làm quan. Trong thời gian đó, văn hoá bản địa An Nam được phát triển mạnh mẽ, văn hoá Trung Quốc cũng được truyền bá rộng rãi hơn tại An Nam. Trong giai đoạn một này, tuy nhận dân Việt Nam từng có nhiều lần nổi dậy, như khởi nghĩa chống nhà Tần hoặc cuộc kháng chiến của Thục Phán, của Hai Bà Trưng(năm 40 trước công nguyên), của Lý Bí(542-543), của Mai Thúc Loan(722), của Phùng Hưng(766-779), Ngô Quyền(938), nhưng nói chung đây là giai đoạn trong đó nhiều năm dài Việt Nam chịu sự thống trị của Trung Quốc.
Văn hoá Trung Quốc được truyền bá nhiều tại Việt Nam, sự tiếp nhận văn hoá Trung Quốc của nhân dân Việt Nam chủ yếu không phải là chủ động mà là bị động.2 Một số biểu hiện ảnh hưởng của văn hoá Trung Quốc ở Việt Nam Thời nhà Tần- nhà Hán là thời manh nha của sự truyền bá văn hoá Trung Hoá tại Việt Nam[25, tr. Tần Thuỷ Hoàng phái quan lại quản lý Giao Chỉ, thực thi chế độ xã hội như vùng Trung Quốc. Ngoài ra, nhà Tần còn "phát những người bị đày đến cho ở lộn với người Việt Nam trong 13 năm. "[dẫn theo 2, tr.49] Việc di chuyển vào vùng Giao Chỉ của nhân dân Trung Quốc đã thúc đẩy sự giao lưu giữa nhân dân Trung Quốc và Giao Chỉ.
Như trong Giao Châu ngoại vực ký ghi chép: "Tần dư đồ dân, nhiễm đồng di hoá; nhật nam cựu phong, biến dịch câu tận "[dẫn theo 25, tr. Sau khi Triệu Đà chiếm được Nam Việt, Triệu Đà đã thực thi một loạt chính sách để củng cố chính quyền như khuyến khích người Hán kết hôn với người Việt, phổ biến phong tục Trung Quốc V. Những chính sách đó cũng gây tác dụng tích cực đối với việc văn hoá Trung Hoa tiến vào Nam Việt. Như một số nhà nghiên cứu từng nói rằng: "Thời kỳ mới lan truyền của văn hoá Trung Hoa bắt đầu từ nhà Tần, và phát triển đến thời nước Nam Việt đi tới đỉnh cao thứ nhất.74] Đến đời nhà Hán, triều đình Trung Quốc tiếp tục tăng cường quản lý Giao Chỉ.
Năm một sau công nguyên, Tích Quang đảm nhiệm chức thái thú Giao Chỉ, góp phần hướng dẫn dân Giao Chỉ làm ruộng, xây đựng trường học, dùng lễ nghi. Năm 29 sau công nguyên, Nhâm Diên đảm nhiệm chức thái thú Cửu Chân, dạy nhân dân bản địa cày ruộng, định ra lễ pháp hôn lễ, thay đổi phục trang của họ. Tích Quang và Nhâm Diên góp phần vào việc ổn định, phát triển kinh tế của bản địa, bên cạnh đó, cũng góp phần vào việc truyền bá văn hoá Trung Hoa. Trong Hậu Hán Thư của Trung Quốc và Đại Việt sử kỷ toàn thư đều có lời đánh giá cao về hai người trên, và cho rằng vãn hoá Trung Hoa hình thành ở vùng Giao Chỉ là bắt đầu từ hai thái thú trên.