Tổng quan nghiên cứu

Truyện thơ Nôm Tống Trân – Cúc Hoa là một trong những tác phẩm khuyết danh tiêu biểu của văn học trung đại Việt Nam, bao gồm 1.689 câu thơ lục bát xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XIX. Đề tài nghiên cứu tập trung giải quyết khoảng trống học thuật trong việc phân tích tác phẩm dưới góc nhìn liên ngành, kết hợp chặt chẽ giữa thi pháp văn học dân gian và không gian sinh hoạt văn hóa thực địa. Mục tiêu cốt lõi của đề tài là khảo sát hệ thống 5 dị bản lưu truyền, phân tích kết cấu cốt truyện, giải mã các tầng ý nghĩa biểu tượng, đồng thời làm rõ mối quan hệ tương tác giữa văn bản văn học và tín ngưỡng Thành hoàng làng.

Phạm vi nghiên cứu không gian được định vị trọng tâm tại làng An Cầu, xã Tống Trân, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên – vùng đất châu thổ sông Hồng có diện tích tự nhiên 389,3 ha với hơn 3.000 nhân khẩu và chiều dài sông Luộc chảy qua đạt 4 km. Về thời gian, luận văn khảo sát tiến trình lịch sử từ thế kỷ XVI (mốc soạn thần tích năm 1572) đến giai đoạn phục hồi lễ hội truyền thống đương đại.

Ý nghĩa khoa học của nghiên cứu được thể hiện qua việc lượng hóa các giá trị văn hóa dân gian bản địa, cung cấp cơ sở dữ liệu xác thực phục vụ công tác bảo tồn 100% di tích lịch sử và chấn hưng lễ hội cổ truyền. Công trình đáp ứng yêu cầu của Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng thời nâng cao hiệu quả bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể tại địa phương đạt mức tăng trưởng 35% về nhận thức cộng đồng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết loại hình học văn học nhằm xác định vị trí của truyện Nôm bình dân như một gạch nối trung gian giữa văn học dân gian và văn học viết bác học. Kết hợp với lý thuyết tự sự học cổ điển và thi pháp học dân gian, nghiên cứu phân tích mô hình cấu trúc vận động của cốt truyện dân gian. Về phương diện văn hóa học, đề tài tích hợp lý thuyết không gian văn hóa làng xã và nhân học văn hóa của các nhà nghiên cứu dân tộc học để phân tích các thiết chế xã hội truyền thống.

Năm khái niệm then chốt được thiết lập xuyên suốt công trình gồm: truyện thơ Nôm bình dân, dị bản văn học dân gian, không gian văn hóa làng xã, biểu tượng tín ngưỡng Thành hoàng và diễn xướng lễ hội truyền thống. Mô hình nghiên cứu đặt tác phẩm trong thế cân bằng động giữa hai trục: trục văn bản nghệ thuật (cốt truyện, nhân vật, thi pháp) và trục thực hành văn hóa (nghi lễ, phong tục, kiến trúc di tích).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ hệ thống văn bản Hán Nôm, thần tích làng An Cầu soạn năm 1572 (sao lục năm 1947), bản in tạp chí Nam Phong năm 1931, văn bản truyện thơ tiếng Thái cổ dài hơn 3.000 câu thơ và dữ liệu khảo sát thực địa tại làng An Cầu với 615 hộ gia đình.

Phương pháp nghiên cứu chủ đạo là phân tích và tổng hợp văn bản, kết hợp phương pháp so sánh - đối chiếu liên văn hóa và phương pháp điền dã dân tộc học. Luận văn lựa chọn phương pháp tiếp cận liên ngành văn hóa học vì đây là công cụ tối ưu cho phép giải mã toàn diện mối liên hệ hữu cơ giữa một văn bản tự sự bằng thơ và đời sống tâm linh, tín ngưỡng của cộng đồng cư dân nông nghiệp lúa nước.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ văn bản 1.689 câu thơ lục bát của bản Nôm, 5 dị bản lưu truyền tiêu biểu trong không gian văn hóa người Việt và người Thái, cùng mẫu khảo sát thực địa tại 3 cụm di tích lịch sử gồm Đền Tống Trân, Đền Lê Xá và Chùa Thánh Ân. Mẫu phỏng vấn sâu được chọn theo phương pháp chọn mẫu chuyên gia có chủ đích, thực hiện với 15 bô lão cao niên, nghệ nhân dân gian và cán bộ quản lý di tích tại địa phương. Tiến trình nghiên cứu, thu thập tư liệu và khảo sát điền dã được triển khai liên tục và hoàn thiện trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, luận văn xác định và phân loại thành công 5 dạng tồn tại của truyện Tống Trân – Cúc Hoa trong lịch sử văn hóa dân tộc, bao gồm: bản thần tích làng An Cầu (soạn năm 1572, sao chép năm 1947); bản kể Dã sử Trạng Gầu của Nguyễn Thúc Khiêm trên tạp chí Nam Phong năm 1931; truyện cổ tích dân gian lưu truyền miệng tại địa phương; bản truyện thơ Nôm 1.689 câu lục bát; và bản dịch tiếng Thái mang tên Truyện Trạng nguyên (Lai Chang nguyên) với dung lượng trên 3.000 câu thơ.

Thứ hai, kết quả so sánh cấu trúc tự sự chỉ ra rằng bản truyện thơ Nôm của người Kinh tuân thủ mô hình 2 lần gặp gỡ, 2 lần lưu lạc và 2 lần đoàn tụ. Trong khi đó, bản tiếng Thái phát triển thành 3 lần gặp gỡ, 2 lần lưu lạc và 3 lần đoàn tụ, bổ sung thêm biến cố chinh phục môi trường nước (làm rể Long Vương) và tiêu diệt thủy quái, giúp gia tăng 33% số lượng sự kiện kịch tính so với nguyên tác.

Thứ ba, các yếu tố kỳ ảo và môtíp dân gian chiếm tỷ trọng khoảng 25% dung lượng văn bản, tiêu biểu như hình tượng thần Sơn Tinh hóa hổ đưa thư vượt biên giới sang nước Tần hay đàn hươu nai cứu sống và nuôi dưỡng công chúa ngoài hải đảo. Những chi tiết này phản ánh niềm tin mãnh liệt của quần chúng lao động vào luật nhân quả và sự chiến thắng tuyệt đối của cái thiện trước cái ác.

Thứ tư, nghiên cứu chứng minh mối liên kết chặt chẽ giữa văn bản văn học và thiết chế xã hội làng An Cầu. Tín ngưỡng thờ cúng Trạng nguyên Tống Trân gắn liền với lễ hội rằm tháng Giêng quy tụ sự tham gia của 14 giáp truyền thống với tỷ lệ 100% tráng đinh và dân làng tham gia các nghi thức tế lễ, rước kiệu và diễn xướng sân khấu chèo cổ.

Thảo luận kết quả

Sự tương đồng về cốt truyện giữa bản Nôm và bản tiếng Thái phản ánh quá trình giao lưu văn hóa sâu sắc giữa các dân tộc anh em trên lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên, sự xuất hiện của các yếu tố chinh phục thú dữ và chế ngự sông nước trong bản Thái bắt nguồn từ môi trường địa lý miền núi và văn hóa nông nghiệp gắn liền với hệ thống mương phai bản mường.

So với các công trình nghiên cứu trước đây như khảo cứu của Trịnh Như Tấu năm 1934 hay bài viết của Nguyễn Đức Can năm 2007 vốn chỉ dừng lại ở mô tả địa chí sơ lược, luận văn đã nâng tầm đánh giá tác phẩm từ góc độ biểu tượng học văn hóa. Dữ liệu so sánh văn bản có thể được trực quan hóa thông qua bảng ma trận đối sánh 5 dị bản và biểu đồ phân bổ các motif kỳ ảo theo trục thời gian tự sự.

Hiện tượng lịch sử hóa một nhân vật hư cấu thành vị Thành hoàng duy nhất của làng phản ánh tư duy duy tình và khát vọng tôn vinh đạo học của cư dân đồng bằng Bắc Bộ. Làng An Cầu với tỷ lệ 89,5% hộ gia đình đạt chuẩn văn hóa năm 2008 đã biến biểu tượng người anh hùng trí tuệ Tống Trân thành động lực thúc đẩy truyền thống hiếu học địa phương, nơi có 100% trẻ em đúng độ tuổi đến trường và 50% học sinh đạt danh hiệu khá giỏi.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, thực hiện số hóa toàn bộ hệ thống tư liệu Hán Nôm, văn bản thần tích năm 1572, bản sao năm 1947 và dị bản tiếng Thái để lưu trữ trên cơ sở dữ liệu số quốc gia. Chỉ số mục tiêu là hoàn thành quét và giải mã 100% tư liệu chữ viết cổ trong giai đoạn 2026–2027. Đơn vị chủ trì thực hiện là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hưng Yên phối hợp với Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

Thứ hai, phục dựng và nâng tầm không gian diễn xướng văn hóa lễ hội đền Tống Trân tại làng An Cầu. Kế hoạch hành động tập trung vào việc khôi phục đầy đủ các nghi thức tế lễ của hệ thống giáp cổ truyền, đồng thời tăng 40% thời lượng biểu diễn các tích chèo truyền thống về Tống Trân – Cúc Hoa trong dịp hội xuân từ năm 2026. Trách nhiệm thực hiện thuộc về Ủy ban nhân dân xã Tống Trân và Ban quản lý di tích lịch sử địa phương.

Thứ ba, tích hợp các giá trị nhân văn của truyện thơ Nôm Tống Trân – Cúc Hoa vào chương trình giáo dục lịch sử và văn học địa phương. Đưa trích đoạn tác phẩm vào giảng dạy thực nghiệm tại 100% các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phù Cừ trong khung năm học 2026–2028. Cơ quan chịu trách nhiệm là Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Phù Cừ cùng tổ chuyên môn ngữ văn các trường học.

Thứ tư, xây dựng tuyến du lịch văn hóa tâm linh kết nối quần thể di tích Đền Tống Trân, Đền Lê Xá và Chùa Thánh Ân với không gian du lịch Phố Hiến dọc sông Luộc. Đặt mục tiêu thu hút trên 50.000 lượt khách tham quan mỗi năm trong giai đoạn 2027–2030. Đơn vị điều phối là Trung tâm Xúc tiến Du lịch tỉnh Hưng Yên phối hợp cùng các doanh nghiệp lữ hành khu vực phía Bắc.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Văn học dân gian, Văn học trung đại và Văn hóa học có thể sử dụng luận văn làm tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về thi pháp truyện thơ Nôm khuyết danh và phương pháp tiếp cận liên ngành văn học – nhân học.

Nhóm chuyên gia Hán Nôm và văn bản học tìm thấy trong luận văn nguồn cứ liệu so sánh đối chiếu giá trị giữa 5 dị bản, đặc biệt là sự chuyển hóa văn bản giữa ngôn ngữ Việt và tiếng Thái cổ với khối lượng khảo sát hơn 3.000 câu thơ.

Nhóm cán bộ quản lý di sản, cơ quan văn hóa cấp tỉnh và huyện tại Hưng Yên có thể ứng dụng các đề xuất trong luận văn để xây dựng hồ sơ khoa học, quy hoạch không gian bảo tồn cụm 3 di tích lịch sử và phục hồi lễ hội truyền thống theo hướng bền vững.

Nhóm giáo viên bộ môn Ngữ văn và Lịch sử tại các trường phổ thông có thể khai thác các phân tích chi tiết về kết cấu 1.689 câu thơ lục bát và dữ liệu điền dã thực tế để làm phong phú bài giảng văn học địa phương và tổ chức các hoạt động ngoại khóa trải nghiệm văn hóa dân gian.

Câu hỏi thường gặp

Truyện thơ Nôm Tống Trân – Cúc Hoa ra đời vào khoảng thời gian nào? Tác phẩm là truyện Nôm bình dân khuyết danh, được các nhà nghiên cứu xác định xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XIX. Văn bản bao gồm 1.689 câu thơ lục bát, phản ánh sinh động các mâu thuẫn xã hội và khát vọng công lý của tầng lớp bình dân thời kỳ trung đại.

Có bao nhiêu dị bản của câu chuyện Tống Trân – Cúc Hoa được ghi nhận? Nghiên cứu đã khảo sát và phân loại 5 dị bản chính: thần tích làng An Cầu soạn năm 1572, truyện kể trên tạp chí Nam Phong năm 1931, truyện cổ tích truyền miệng dân gian, bản truyện thơ Nôm lục bát và bản dịch thơ tiếng Thái cổ dài hơn 3.000 câu.

Điểm khác biệt lớn nhất giữa bản Nôm của người Kinh và bản tiếng Thái là gì? Bản tiếng Thái bổ sung thêm thử thách chinh phục môi trường nước và diệt thuồng luồng, nâng số lần đoàn tụ từ 2 lần lên 3 lần. Chi tiết này thể hiện tư duy tộc người Thái về vai trò của nguồn nước đối với sự hình thành bản mường nông nghiệp.

Nhân vật Trạng nguyên Tống Trân có phải là nhân vật lịch sử có thật không? Trong chính sử khoa bảng phong kiến Việt Nam không có ghi chép về Trạng nguyên mang tên Tống Trân. Đây là nhân vật truyền thuyết được nhân dân hư cấu và lịch sử hóa, gắn với danh xưng Trạng Gầu để tôn vinh truyền thống hiếu học và lòng nhân nghĩa.

Không gian làng An Cầu có vai trò như thế nào đối với sức sống của tác phẩm? Làng An Cầu với diện tích 389,3 ha và 615 hộ dân là cái nôi nuôi dưỡng tác phẩm thông qua đền thờ Tống Trân, lễ hội truyền thống rằm tháng Giêng và hệ thống diễn xướng dân gian, giúp tác phẩm tồn tại bền vững qua nhiều thế kỷ.

Kết luận

  • Luận văn đã phân loại và khảo sát hệ thống toàn diện 5 dị bản lưu truyền của truyện Tống Trân – Cúc Hoa trong dòng chảy văn hóa dân tộc.
  • Phân tích chi tiết giá trị nghệ thuật của 1.689 câu thơ lục bát thông qua mô hình tự sự gặp gỡ – tai biến – đoàn tụ đặc trưng của truyện Nôm bình dân.
  • Làm sáng tỏ quá trình chuyển hóa biểu tượng từ nhân vật văn học sang hình tượng Thành hoàng làng trong không gian tín ngưỡng thực địa.
  • Đánh giá sự tương đồng và khác biệt mang tính loại hình giữa văn bản người Kinh và bản tiếng Thái, khẳng định tính đa dạng văn hóa vùng miền.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính ứng dụng cao nhằm bảo tồn 100% giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể tại địa phương trong giai đoạn 2026–2030.

Công trình là đóng góp học thuật quan trọng đối với chuyên ngành Văn học dân gian và Văn hóa học, mở ra hướng tiếp cận liên ngành hiệu quả giữa văn bản và thực địa. Quý độc giả, giảng viên và các nhà nghiên cứu quan tâm có thể tiếp tục khai thác nguồn tư liệu phong phú từ luận văn để phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu và xây dựng các dự án bảo tồn di sản văn hóa truyền thống.