Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Thời đại Nguyễn Du (1765 – 1820), tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, quê làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Nguyễn Du sống trong một thời đại vô cùng rối ren của nửa cuối thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX. Đây là thời kì chế độ phong kiến bộc lộ rõ nhất những ung nhọt và thối nát của nó.
Bức tranh toàn cảnh xã hội Việt Nam thời Lê mạt - Nguyễn sơ đầy rẫy những biến động. Cuộc đối đầu giữa hai dòng họ, họ Trịnh ở Đàng Ngoài và họ Nguyễn ở Đàng Trong kéo dài hơn hai thế kỉ (từ năm 1570 đến 1786). Đất nước rơi vào cảnh Nam Bắc chia cắt hết sức lầm than, đời sống của người dân muôn vàn cực khổ, điêu đứng. Khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi, đỉnh cao là phong trào Tây Sơn năm 1771.
Phong trào này cùng một lúc đã đánh tan hai tập đoàn phong kiến phản động trong nước và hai cuộc xâm lược của ngoại bang là Xiêm và Mãn Thanh, góp phần không nhỏ trong việc thống nhất đất nước. Sau khi lên ngôi, Quang Trung ban hành nhiều chính sách tiến bộ, ích nước lợi dân. Nhưng làm vua được vài năm, Quang Trung mất, các thế lực phản động nổi lên, đất nước lại rơi vào cảnh điêu linh. Nguyễn Ánh lên ngôi năm 1802, chế độ phong kiến triều Nguyễn được thiết lập.
Sự thay đổi chóng vánh ấy có ảnh hưởng không nhỏ đến Nguyễn Du và gia đình của ông. Ông chưa hết xót xa đau đớn cho tình cảnh tan tác của tập đoàn Lê - Trịnh, lại một lần nữa chứng kiến sự sụp đổ trong nháy mắt của triều đại Tây Sơn. Vận mệnh rỡ ràng, ngắn ngủi của triều đại ấy kết thúc thấp thoáng phía sau là công cuộc khôi phục của triều đình nhà Nguyễn. Là chứng nhân chứng kiến mọi biến cố đầy kịch tính của lịch sử Việt Nam cuối thế kỉ XVIII nửa đầu thế kỉ XIX, Nguyễn Du sống trong một trạng thái bàng hoàng, hẫng hụt về tư tưởng, và không phải đã dễ dàng tìm ngay được một lẽ sống, một chỗ 11 đứng nào vững vàng, ổn định, một con đường nào để giải thoát cho bản thân.
Sự bế tắc đó cũng chính là bi kịch của cuộc đời Nguyễn Du. Thời đại đầy rẫy biến động, đầy rẫy đau thương ấy ảnh hưởng rất lớn đến cuộc đời và những trải nghiệm, suy nghĩ của Nguyễn Du. Thực trạng này cũng giúp chúng ta phần nào lý giải được những mâu thuẫn trong tư tưởng của Nguyễn Du, đồng thời hiểu được vì sao trong thơ, Tố Như lại đau đời, thương người và day dứt trước thân phận con người đến thế. Gia thế và cuộc đời Nguyễn Du sinh trưởng trong một gia đình đại quý tộc, nhiều đời làm quan.
Cha là Nguyễn Nghiễm, đỗ tiến sĩ, từng giữ chức Tể tướng. Anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản cũng từng làm quan to dưới triều Lê – Trịnh. Người địa phương có câu ca dao về dòng họ này: “Bao giờ ngàn Hống hết cây, Sông Rum hết nước, họ này hết quan” Không chỉ công thành danh toại, gia đình Nguyễn Du còn có truyền thống văn chương. Sống trong một môi trường giàu truyền thống văn học như thế, năng khiếu của Nguyễn Du có điều kiện nảy nở từ rất sớm.
Lúc còn bé, Nguyễn Du được sống trong cảnh giàu sang, hạnh phúc nhưng tuổi thơ tươi đẹp của ông không kéo dài được bao lâu. Năm Nguyễn Du tròn mười tuổi đã có hai biến cố lớn xảy ra: Nguyễn Trụ, anh cùng mẹ với Nguyễn Du mắc bệnh mất ở kinh thành giữa tuổi mười tám và Nguyễn Nghiễm, cha của Nguyễn Du cũng qua đời. Khi Nguyễn Du lên 13 tuổi, mẹ ông cũng mất. Vậy là, Nguyễn Du sớm mồ côi cả cha lẫn mẹ, không biết nương tựa vào đâu trong khi các anh em cùng mẹ với Nguyễn Du còn quá nhỏ, do đó Nguyễn Du phải ở với người anh khác mẹ là Nguyễn Khản.
Nguyễn Khản hơn Nguyễn Du 31 tuổi, sớm đỗ đạt, làm quan to trong triều, lại là một con người tài hoa rất mực, đã có ảnh hưởng rất lớn đến Nguyễn Du sau này. Cảnh sống hào hoa của Nguyễn Khản được Phạm Đình Hổ viết: “Ông Nguyễn Khản ham thích hát xướng, gặp khi con hát tang trở, cũng cứ cho nó tiền bắt hát, không lúc nào bỏ tiếng tơ tiếng trúc. Khi ông có tang quan Tư 12 đồ (tức Nguyễn Nghiễm), ngày rỗi cũng vẫn cứ sai con hát đồ khúc gọi là “ngâm thơ Nôm”. Bọn con em họ quý thích đều bắt chước chơi bời hầu như thành thói quen” [12; 246].
Sống trong hoàn cảnh như vậy nên từ rất sớm, Nguyễn Du đã di dưỡng tấm lòng trắc ẩn và cảm thông sâu sắc đối với phụ nữ nói chung và ca kĩ nói riêng. Họ phải đem tài sắc và giọng hát của mình để mua vui cho kẻ giàu sang, mua vui cho cuộc đời. Sau này, Nguyễn Du có dịp chứng kiến thêm nhiều cảnh tượng bất công ngang trái của những kiếp người tài hoa bạc mệnh và ông luôn đứng về phía họ để lên tiếng bênh vực và che chở. Nguyễn Du sống với anh cũng chẳng bao lâu.
Năm nhà thơ 18 tuổi, vừa đỗ Tam trường, gia đình của Nguyễn Khản gặp biến cố. Kiêu binh nổi loạn, Nguyễn Khản cải trang chạy lên Sơn Tây, sau đó thì về quê ở Hà Tĩnh. Gia đình Nguyễn Du từ đây mỗi người mỗi ngã. Trước kia, một ông quan họ Hà, làm việc dưới quyền Nguyễn Nghiễm, giữ chức Chánh thủ hiệu hiệu quân hùng hậu ở Thái Nguyên, không có con trai, xin Nguyễn Du làm con nuôi.
Sau khi họ Hà mất, Nguyễn Du được tập ấm chức ấy. Năm 1789, Tây Sơn kéo quân ra Bắc phá tan 29 vạn quân Thanh, Lê Chiêu Thống bỏ nước chạy theo đám tàn quân của giặc. Lúc này các anh em cùng mẹ với Nguyễn Du là Nguyễn Đề và Nguyễn Ức chạy theo Lê Chiêu Thống nhưng không kịp. Nguyễn Du từ giã Nguyễn Đề và Nguyễn Ức để trở về quê vợ ở huyện Quỳnh Đôi, tỉnh Sơn Nam (Thái Bình), sống nhờ người anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn.
Khi người vợ họ Đoàn mất, ông về quê Hà Tĩnh làm “người đi săn ở núi Hồng” (Hồng Sơn liệp hộ), “người câu cá ở biển Nam” (Nam Hải điếu đồ). Năm 1796, Nguyễn Du có ý định vào Nam giúp Nguyễn Ánh nhưng bị trấn tướng của Tây Sơn ở Nghệ An là Nguyễn Thận bắt giam. Sau vì Nguyễn Thận nể anh ruột của Nguyễn Du là Nguyễn Nễ làm quan cho Tây Sơn cũng là bạn của mình, lại mến tài của Nguyễn Du nên tha. Từ đó Nguyễn Du về ở hẳn Tiên Điền trong một thời gian dài.
Đây là những năm Nguyễn Du ở “dưới chân núi Hồng”. Chiến tranh loạn lạc xảy ra, ông tận mắt chứng kiến cảnh thay đổi sơn hà, gia đình li tán, anh em lưu lạc mỗi người một nơi. Cuộc đời ông như ngọn cỏ bồng đứt 13 gốc lăn lóc bên trời, trôi giạt từ đầu sông đến cuối bể, cơm không đủ ăn, ốm không thuốc uống, từng có lúc đau khổ gần như tuyệt vọng. Nhưng cũng chính những bước đường thương đau ấy đã giúp ông thực sự có dịp hiểu biết và sống gần gũi với quần chúng.
Năm 1802, Gia Long lật đổ triều đại Tây Sơn. Tháng 8 năm ấy, Nguyễn Du được bổ nhiệm làm tri huyện Phù Dung, phủ Khoái Châu, trấn Sơn Nam. Từ đó, ông được giữ nhiều chức vụ khác nhau trong triều. Năm 1809, ông được bổ làm Cai bạ ở Quảng Bình và ở chức này bốn năm liền.
Nguyễn Du làm quan không nghĩ đến danh lợi, lúc nào cũng chăm lo đến đời sống của nhân dân. Gia phả chép: “Khi làm quan chức cai bạ dinh Quảng Bình, phàm những việc công trong hạt như lính tráng, dân sự kiện thưa, tiền nong, lương thực và các hạng thuế, ông đều bàn bạc thương lượng với các quan Lưu thủ, Ký lục để thi hành. Ông giữ chức Cai bạ bốn năm, chính sự giản dị, không cầu tiếng tăm, nên được sĩ phu và nhân dân yêu mến” [48; 18]. Năm 1813, ông được thăng Cần chánh điện học sĩ và được cử làm chánh sứ sang Trung Quốc.
Năm 1814, ông được thăng Hữu tham tri bộ Lễ. Năm 1819, ông được cử làm Đề điệu trường thi Quảng Nam. Ông dâng biểu cố từ, được vua chuẩn y. Năm 1820, Minh Mệnh lên ngôi, định cử ông làm chánh sứ đi Trung Quốc lần nữa nhưng chưa kịp đi thì ông bị bệnh và mất đột ngột vào ngày 10 tháng 8 năm Đinh Thìn.
Cuộc đời làm quan của Nguyễn Du dưới triều Nguyễn từ năm 1802 cho đến lúc mất 1820, tính đúng là 19 năm. Trừ những thời gian xin về tạm nghỉ ở quê nhà có thể nói là không gián đoạn. Ông thăng chức khá nhanh và có lúc giữ nhiều chức vụ quan trọng. Gia phả chép: “… dẫu làm đến chức Á khanh mà ông vẫn giữ vẻ thanh nhã đơn giản như một người học trò nghèo” [48].
Quả thật điều đó làm không ít người yêu quý và cảm thấy gần gũi ông. Khi làm quan dưới triều Nguyễn, Nguyễn Du ít nói năng đến nỗi có lần ông bị vua quở rằng: “Nhà nước dùng người tài giỏi thì cất lên, không hề phân biệt người Bắc, người Nam. Dường như ông luôn mang trong mình nỗi buồn không thể nói cùng ai. Nỗi buồn ấy ông đành chôn chặt tận đáy lòng ngay cả khi xuống dưới tuyền đài: “Đến khi ốm nặng, ông không chịu uống thuốc, bảo người nhà sờ tay chân.
Họ thưa đã lạnh cả rồi, ông nói: “Được” rồi mất, không trối lại một lời” [48; 19]. Những năm tháng thăng trầm, lưu lạc và sống gần gũi với quần chúng đã đem lại cho ngòi bút Nguyễn Du sự cảm thông, chia sẻ sâu sắc với thân phận những con người bé nhỏ, những kiếp tài hoa bạc mệnh. Thơ chữ Hán của Nguyễn Du Sự nghiệp văn học của Nguyễn Du gồm những tác phẩm có giá trị lớn bằng chữ Hán và chữ Nôm. Về chữ Hán Nguyễn Du có ba tập thơ Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm và Bắc hành tạp lục với tổng số 250 bài.
Về chữ Nôm, xuất sắc nhất là Đoạn trường tân thanh, thường gọi là Truyện Kiều, ngoài ra còn có Văn chiêu hồn, Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu và bài Thác lời trai phường nón. Thanh Hiên thi tập Đây là tập thơ chữ Hán đầu tiên của Nguyễn Du sáng tác gồm 78 bài được chia thành ba giai đoạn: • Mười năm gió bụi: (1786 - khoảng cuối 1795 đầu năm 1796) tức năm Tây Sơn bắt đầu đưa quân ra Bắc Hà, cho đến năm Nguyễn Du trở về quê nhà ở Hồng Lĩnh. • Dưới chân núi Hồng (1796 -1802): quãng thời gian ông về ẩn tại quê nhà (Hà Tĩnh).