Chương 1 HƯ CẤU, SÁNG TẠO VÀ HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ TRONG DÒNG CHẢY VĂN HỌC VIỆT NAM 1. Một số vấn đề lí luận chung 1. Khái niệm hư cấu, sáng tạo “Hư cấu: tạo ra bằng tưởng tượng (thường do yêu cầu của sáng tác văn học – nghệ thuật) [29, 472] “Hư cấu: là phương thức xây dựng hình tượng điển hình qua việc sáng tạo ra những giá trị mới, những yếu tố mới, như sự kiện, cảnh vật, nhân vật trong một tác phẩm theo sự tưởng tượng của tác giả. Đây là một yếu tố không thể thiếu của sáng tác văn học nghệ thuật.
Văn học nghệ thuật bắt nguồn từ cuộc sống nhưng không sao chép nguyên nó. Từ những chất liệu thực tế, nghệ sĩ tổ chức, nhào nặn, sáng tạo ra những hình tượng nghệ thuật sinh động, rõ nét và điển hình hơn, tùy thuộc chủ đề của tác phẩm. Hư cấu chính là dấu hiệu của sáng tạo. Sáng tạo: “Tạo ra những giá trị mới về vật chất hoặc tinh thần; tìm ra cái mới, cách giải quyết mới, không bị gò bó, phụ thuộc vào cái đã có” [29, 847].
Như vậy, hư cấu nghệ thuật chính là dấu hiệu ban đầu của sáng tạo nghệ thuật. Văn học nghệ thuật xưa nay, không đơn thuần chỉ là việc phản ánh lại cuộc sống, hơn hết nó phải tìm cho mình cách biểu hiện tốt nhất, đáng nói ở đây chính là ý thức về mặt sáng tạo, vì ý thức về sáng tạo tức là người viết ý thức được bản thân, thể hiện được sự mày mò trong lao động sáng tạo nghệ thuật, nhất là trong văn chương. Vì vậy hư cấu, sáng tạo là điều kiện tất yếu trong sáng tác văn học. Đối với văn học trung đại Việt Nam, hư cấu sáng tạo là yếu tố rất đáng được quan tâm.
e 12 Văn học trung đại phát triển với nhiều thể loại. Đến thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX, thể loại phát triển và đạt thành tựu ngoài thơ, khúc ngâm, chúng ta phải kể đến tiểu thuyết chương hồi, với Nam triều công nghiệp diễn chí của Nguyễn Khoa Chiêm, Truyện kí chữ Hán Tây Dương Gia Tô bí lục, Hoàng Lê Nhất thống chí của Ngô Gia Văn Phái cuối XVIII - đầu XIX. Các tác phẩm thuộc sử học với tên “chí, lục” nên ít hư cấu, tuy nhiên qua nhan đề sách với nội dung thì lại có sự mâu thuẫn nhau, trong đó mâu thuẫn thấy rõ nhất là trong Hoàng Lê nhất thống chí. Chúng ta đều biết chí là một trong ba lối viết sử của kỷ truyện.
Tuy nhiên, đọc tác phẩm, ta không khỏi ngạc nhiên khi nhận thấy, Hoàng Lê nhất thống chí không thuộc loại hình lịch sử, mà thuộc loại hình văn chương; chẳng những thế, nó còn là tác phẩm văn chương đặc sắc. Viết về chúa Trịnh Sâm, các nhà sử học đã ghi chép Trịnh Sâm là một ông chúa hoang dâm, cuối đời lại mê Đặng Thị Huệ dẫn đến sự suy sụp của triều đại Lê Trịnh, chứ không nói cụ thể Trịnh Sâm say mê Đặng Thị Huệ như thế nào. Trong Hoàng Lê nhất thống chí, chúng ta có thể nhận thấy một cách cụ thể qua những chi tiết tiêu biểu như: một hôm Đặng Thị Huệ cầm xem viên ngọc quý của Trịnh Sâm, chúa nói “nhè nhẹ tay chứ, đừng làm ngọc bị xây xát”, thế là ả cầm viên ngọc ném xuống đất, vỡ tan, rồi còn khóc tru tréo lên làm nũng Chúa, bảo Chúa trọng của khinh người, rồi bỏ đi., khiến cho Trịnh Sâm phải dỗ dành mãi ả mới chịu làm lành, dù rất tiếc viên ngọc. Đặng Thị Huệ, qua sử sách, chúng ta chỉ biết ả là một nữ tì của Trần Thị Vinh, có nhan sắc lọt vào mắt Chúa, được Chúa yêu dấu.
Tuy vậy qua Hoàng Lê nhất thống chí, chúng ta có cái nhìn đầy đủ hơn: ả không chỉ có nhan sắc, mà còn ý thức rất rõ về nhan sắc của mình, không từ một mánh khoé nào để bắt Trịnh Sâm phải phục tùng mọi tham vọng của mình “Lúc vương tử Cán đầy tuổi tôi, cốt cách tướng mạo khôi ngô, đẫy đà, khác hẳn người thường. thấy vậy chúa càng quý vương tử Cán bội phần. Cũng do đó, Thị Huệ mới ngầm có ý muốn cướp ngôi thế tử”. e 13 Hay viết về phong trào Tây Sơn, nhiều công trình nghiên cứu về tác phẩm Hoàng Lê nhất nhống chí đã thừa nhận rằng, đây chính là tác phẩm duy nhất phản ánh một cách đầy đủ về phong trào Tây Sơn.
Riêng về chiến dịch Đống Đa, “sử sách nước ta không có cuốn nào ghi chép được đầy đủ và sinh động như Hoàng Lê nhất thống chí. Ngoài những yếu tố trên, Hoàng Lê nhất thống chí còn ghi chép được cả sự toan tính, mưu mô quỷ quyệt muốn thôn tính, xâm lược nước ta của nhà Thanh, kẻ thì bình tĩnh, thận trọng như Tuần phủ Tôn Vĩnh Thanh, kẻ thì hung hăng, hống hách như Tổng đốc Tôn Sĩ Nghị. nhưng tất cả đều gặp nhau ở một điểm, mượn tiếng đem quân sang nước ta để bảo tồn nhà Lê, nhưng thực chất để bóc lột, đàn áp và biến nước ta thành quận, huyện của nhà Thanh, như các triều Hán, Đường, Tống, Minh trước kia. Hay như Huy quận công Hoàng Tố Lý là nhân vật có thật.
Khâm định Việt Sử thông giám cương mục xác nhận: “Luôn mấy năm hạn hán mất mùa. đầy đường thây chết đói. dựng quán tế sinh. nấu cơm cháo chia ra phát chẩn, người có bệnh thì cấp cho thuốc thang.
Lại hạ lệnh cho các trấn khuyên nhủ dân sở tại, người giàu người nghèo giúp đỡ lẫn nhau; cấm nhân dân đóng cữa không bán gạo. Tuy thế nhưng kẻ trên người dưới che đậy lẫn nhau, mệnh lệnh của triều đình cũng chỉ thi hành một cách cẩu thả trên giấy tờ suông thôi. Chỉ có Hoàng Đình Bảo. kê tên những người trong hạt.
bắt người có quyền thế vật lực xác nhận lĩnh về ủy thác sự chu cấp cho họ, hoặc chiếu theo nhân khẩu để cấp phát thực tiễn. Nhờ thế mà nhiều người được toàn hoạt” [22, 946]. Như vậy, quốc sử khẳng định quận Huy là người tốt, hoặc chí ít là người không xấu. Hơn nữa, Lê Hữu Trác, xem quận Huy là người “vốn có tài của Chu Công ngày xưa, thường rất khiêm tốn đối với kẻ sĩ trong thiên hạ [38,15 ].
e 14 Ấy nhưng, khi đi vào Hoàng Lê nhất thống chí, quận Huy trở thành tên phản phúc, ti tiện. Huy tính toán “Thị Huệ tuy được chúa yêu, nhưng con trai của Thị Huệ còn nhỏ, hùa theo không phải là kế lâu bền”. Thế rồi, chẳng đếm xỉa gì đến tư cách của bậc khanh tướng, một mặt, quận Huy “lấy châu báu đút lót cho những kẻ tay chân của thế tử Tông”, một mặt “đem trăm lạng vàng và mười tấm đoạn Nam Kinh làm lễ yết kiến để xin ra mắt thế tử”. Chẳng ngờ thế tử Tông không dong, thế là Huy trở mặt như trở bàn tay, “âm thầm có chí phế lập”.
Cũng từ đó Huy trở thành người riêng của Thị Huệ, hoa mắt lên khi được Sâm giao làm phụ chính cho chú bé sài đẹn “bụng to, rốn lồi”, “mê mẩn” trong thời cuộc, quay cuồng trong danh vọng, tự làm chủ gánh vác mọi việc “không cần đùn đẩy cho ai” mà chẳng thấy mối họa đang sắp vồ lấy mình. Trên đây chỉ là một ít trường hợp đưa ra để làm dẫn chứng cho vấn đề hư cấu và sáng tạo trong Hoàng Lê nhất thống chí. Ở các chương sau, vấn đề này sẽ trở lại đầy đủ hơn về cả ở phương diện nội dung và nghệ thuật. Đề tài, chủ đề tư tưởng, cảm hứng.
Đề tài là khái niệm chủ yếu thể hiện phương diện khách quan của nội dung tác phẩm văn học. Đọc bất cứ tác phẩm nào, chúng ta cũng bắt gặp những người, những cảnh và tâm tình cụ thể sinh động. Đó là phạm vi miêu tả trực tiếp của tác phẩm. Tính chất của phạm vi miêu tả trực tiếp trong tác phẩm có thể hết sức đa dạng: “chuyện con người, con thú, cỏ cây, chim muông, thú, đồ vật, lại có cả chuyện thần tiên, ma quái, chuyện quá khứ và chuyện viễn tưởng mai sau.
Nhưng mục đích của văn học không bao giờ chỉ là giới thiệu những hiện tượng cá biệt của đời sống hay của tưởng tượng”[19, 259]. Đề tài là một phương diện nội dung của tác phẩm, là đối tượng đã được nhận thức, kết quả lựa chọn của nhà văn. Đó là sự khái quát về phạm vi xã hội, lịch sử của đời sống được phản ánh trong tác phẩm. e 15 Chủ đề là vấn đề cơ bản của tác phẩm, là phương diện chính yếu của đề tài.
Khi phản ánh hiện thực nhà văn chẳng những xác định một phạm vi hiện tượng đời sống mà còn tập trung soi rọi một số vấn đề có ý nghĩa hàng đầu trong phạm vi đó. Nhà thơ Tố Hữu nói: “Vấn đề của nghệ thuật chính là chủ đề, nói nôm na cho dễ hiểu là câu hỏi – câu hỏi của cuộc đời”. Gorki nhấn mạnh tới vai trò chủ đạo của chủ đề trong sáng tác: “Chủ đề là cái tư tưởng manh nha trong kinh nghiệm của tác giả, do cuộc sống gợi lên, làm tổ trong kho ấn tượng của anh ta, nhưng chưa định hình và đòi hỏi thể hiện thành hình tượng, thức tỉnh nhà văn, kêu gọi anh ta lao động để tạo hình thức cho nó” [19, 262]. Như vậy, chủ đề hình thành từ trong ý đồ và biểu hiện trong sáng tác.
Chủ đề thể hiện bản sắc tư duy, chiều sâu tư tưởng, khả năng xâm nhập vào bản chất của đời sống. Chủ đề đóng vai trò rất lớn trong việc làm cho tác phẩm trở nên quan trọng và có ảnh hưởng sâu rộng. Chủ đề của tác phẩm văn học lớn bao giờ cũng vừa phản ánh sâu sắc những vấn đề có nội dung lịch sử xác định, vừa từ mảnh đất lịch sử cụ thể ấy nêu lên những vấn đề chung về sự tồn tại và phát triển của nhân cách con người, về ý nghĩa của cuộc sống. Chủ đề là phương diện khách quan của nội dung tư tưởng tác phẩm.
Nó cho thấy tác phẩm nói tới cái gì, nêu vấn đề gì của hiện thực đời sống. Gọi là “khách quan”, bởi vì tuy chúng do tác giả xác định, nhưng lại do hiện thực qui định, có cội nguồn từ hiện thực. Sức sống của tác phẩm trước hết là ở chủ đề chân thật, có tầm quan trọng của nó. Không nêu được chủ đề có ý nghĩa khách quan, hoặc nêu những vấn đề giả tạo, xuyên tạc hiện thực đều làm cho tác phẩm bị rơi vào quên lãng và có hại trên mặt trận tư tưởng.
Phương diện chủ quan của nội dung tưởng tác phẩm là lí giải chủ đề.