mở đầu kỉ nguyên độc lập tự chủ , ý thức chủ quyền, độc lập dân tộc ở nước ta bắt đầu phát triển sâu sắc. Văn hóa, văn học phát triển gắn liền với ý thức đó. Nó được đánh dấu bởi sự ra đời của văn học viết. Mở đầu là văn xuôi tự sự còn gắn liền với văn học dân gian và văn học chức năng, là thời kì văn - sử bất phân.
Giai đoạn này có hai dạng tác phẩm được sưu tầm, ghi chép, chỉnh lí là truyện dân gian và truyện lịch sử, tôn giáo. Văn xuôi nói chung, truyện truyền kì nói riêng đã đặt nền móng cho văn xuôi trung đại về phương diện nội dung và nghệ thuật. Tập truyện đầu tiên mang yếu tố truyền kì ở Việt Nam là Việt điện u linh tập (Tập truyện về cõi u linh của nước Việt) của Lý Tế Xuyên. Tác phẩm gồm 27 truyện kể về các vị thần linh được thờ ở Việt Nam từ thời xa xưa như vua chúa (nhân quân), bề tôi trung liệt (nhân thần), thần sông, thần núi (hạo khí anh linh).
Những truyện này đều dựa vào truyện dân gian, lấy truyện dân gian làm cơ sở để xây dựng tác phẩm, ít có đổi mới và sáng tạo. Các nhân vật đều có nguyên mẫu từ văn học dân gian. Cuối thế kỉ XIV có tác phẩm Lĩnh Nam chích quái lục của Trần Thế Pháp. Tác giả lấy truyện dân gian nhưng đã có sự sáng tạo.
Sang thế kỉ XV, truyện truyền kì có bước tiến mới trong văn xuôi tự sự Việt Nam. Các tác phẩm không còn mang nặng tính dân gian và chức năng tôn giáo, mà chuyển sang mang tính dân tộc và phản ánh hiện thực đương thời. Thánh Tông di thảo và Truyền kỳ mạn lục là đỉnh cao của truyện truyền kì giai đoạn XV - XVI. Như Nguyễn Đăng Na nhận xét: các tác giả “đã phóng thành công con tàu văn xuôi tự sự vào quỹ đạo nghệ thuật, văn học lấy con người làm đối tượng và trung tâm phản ánh” [34].
Yếu tố kì ảo trở thành phương tiện nghệ thuật để diễn tả nội dung mang ý nghĩa xã hội sâu sắc. Sử dụng yếu tố kì ảo trở thành ý thức của nhà văn. Đây là dấu mốc đầu tiên đánh dấu việc con người được tiếp nhận, được phản ánh như một cá thể độc lập, có số phận riêng. Thế giới nhân vật hiện lên phong phú với sự pha tạp, lẫn lộn ảo và thực, thấp hèn và cao thượng, ma quỷ và thần tiên.
Con người được đặt trong không gian mở, có thiên tào, có địa ngục, có trần thế, có cả trong giấc 22 mơ. Con người ở trong tư thế động. Nếu như ở giai đoạn trước truyện truyền kì lấy các vị thần, các nhà sư làm đối tượng phản ảnh thì giai đoạn sau này đối tượng phản ánh là những con người đời thường, đặc biệt là những con người dưới đáy xã hội. Nội dung truyện gắn bó với hiện thực cuộc sống đương thời.
Để làm được điều đó, các tác giả truyền kì đã mượn cốt truyện từ văn học dân gian rồi viết với tư tưởng và mục đích khác. Từ ảnh hưởng thụ động văn học dân gian, các nhà văn viết truyện truyền kì đã có ý thức sáng tạo chúng. Đây là bước tiến mới trong thể loại truyện truyền kì Việt Nam thời trung đại, thể hiện nét mới trong tư duy nghệ thuật của các nhà văn. Nhân vật truyền kì có những cách thể hiện mới, đặc biệt là sự xuất hiện của nhân vật thứ 3 - hiện thân của tác giả.
Đời sống nội tâm, tính cách nhân vật được đi sâu miêu tả, người kể chuyện thì mang tính cá thể. Đến thế kỉ XVII, văn vần tự sự chữ Nôm xuất hiện, thay thế các tác phẩm văn xuôi tự sự chữ Hán. Sang thế kỉ XVIII – XIX, truyện truyền kì có sự chuyển đổi mạnh mẽ, nguyên nhân là do quan điểm sáng tác của các nhà văn thay đổi. Lịch sử Việt Nam thời kì này đầy bão táp và biến động.
Xã hội phong kiến biểu hiện mục ruỗng, thối nát đến cùng cực. Nhân dân rơi vào cảnh khổ sở, điêu đứng; quyền sống của con người bị đe dọa. Tài năng, phẩm hạnh của con người không được coi trọng. Văn học vì thế mà thay đổi.
Các nhà văn đi sâu vào hiện thực cuộc sống, phản ánh hiện thực cuộc sống. Họ thường viết về những cái “sở kiến”, “sở văn”. Nghĩa là tập trung phản ánh trực tiếp người thật, việc thật, những gì mắt thấy tai nghe. Và Vũ Trinh là nhà văn tiêu biểu cho sự thay đổi đó.
Điều này thể hiện rõ trong cách đặt nhan đề cho tác phẩm của ông, nó không còn là “truyện kỳ” nữa, mà chuyển sang “kiến văn lục”. Đây là quan điểm tiến bộ, tuy nhiên do tăng tính hiện thực nên giảm đi tính kì ảo và vì thế sự hấp dẫn của các truyện cũng bị giảm đi. Cuối thế kỉ XIX là giai đoạn chuyển giao giữa văn học trung đại và văn học cận hiện đại. Với sự ảnh hưởng mạnh mẽ của văn học phương Tây cùng với việc sử dụng chữ quốc ngữ ngày càng trở nên phổ biến, truyện truyền kì không còn phát triển nữa và 23 đã kết thúc vai trò lịch sử của mình.
Các yếu tố kì ảo vẫn được sử dụng trong văn học viễn tưởng, văn học huyền thoại, nhưng bản chất khác hẳn truyện truyền kì. Có thể nói, truyện truyền kì Việt Nam trải qua nhiều biến chuyển, thăng trầm và đã có những đóng góp đáng kể cho văn xuôi chữ Hán cũng như văn học trung đại Việt Nam. Lan Trì kiến văn lục trong tiến trình vận động của truyện truyền kì trung đại Việt Nam Tập truyện Lan Trì kiến văn lục gồm 45 truyện, viết bằng văn xuôi chữ Hán. Dựa vào nội dung những truyền thuyết lưu truyền trong dân gian, hoặc những chuyện gặp được trong cuộc sống đời thường, Vũ Trinh đã viết nên tập truyện này.
Truyện của Vũ Trinh nhìn chung nhất quán về chủ đề tư tưởng và phong cách nghệ thuật, thường tập trung thể hiện một số chủ đề như: chuyện tình yêu nam nữ, chuyện báo ứng luân hồi, chuyện đền ơn trả nghĩa, chuyện giáo dục thi cử, chuyện kỳ quái khó tin,… Phá vỡ “khuôn phép” của những con người thời đại là chủ đề nổi bật nhất trong tác phẩm. Sự phá vỡ đó theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực. Theo hướng tiêu cực như là sự suy thoái về phẩm chất đạo đức, con người trở nên tàn bạo, mất nhân tính, như nhân vật Hoàng trong truyện Hổ nghĩa hiệp, người anh trong truyện Tiên ăn mày, người chồng trong truyện Sống lại. Với những đối tượng này, Vũ Trinh không ngần ngại phê phán nghiêm khắc và có những sự trừng phạt thích đáng.
Phá vỡ theo hướng tích cực như đặt con người vào những tình cảnh bi đát, cùng cực và từ đó phẩm chất tốt đẹp của họ được bộc lộ, đem đến những giá trị tốt đẹp cho cuộc sống, như người phụ nữ trong truyện Cô Đào họ Nguyễn, Người đàn bà trinh tiết ở Thạch Thán, Người vợ tiết liệt ở Cổ Trâu.; người em trong truyện Tiên ăn mày; bà mụ, anh tiều phu trong truyện Hổ có nghĩa. Với những con người này, Vũ Trinh trân trọng, yêu quý, ngợi ca, coi đó là những tấm gương đạo đức mà con người trong cuộc sống phải noi theo. Điều đặc biệt là những chủ đề đó rất gần gũi trong cuộc sống đời thường. Người ta có thể bắt gặp các nhân vật của Vũ Trinh hay những chủ đề mà ông đề cập đến ở bất cứ đâu trong cuộc sống.
Qua những gì phản ánh, Vũ Trinh tập trung nhấn mạnh một điều: “Ở hiền gặp lành”, “Ác giả ác 24 báo”, đó là lời khuyên răn hay cũng là lời cảnh tỉnh con người trong cuộc sống lúc bấy giờ. Hầu hết những truyện của Vũ Trinh đều được viết ngắn gọn, chặt chẽ, súc tích, đầy kịch tính, tình huống gay cấn, hấp dẫn. Tư tưởng của truyện hầu như được hình thành từ các sự kiện, cốt truyện, có sức khơi gợi lớn, luôn làm cho độc giả phát huy trí tưởng tượng cao độ. Mỗi chi tiết được kể vắn tắt đều đóng một vị trí quan trọng không thể thay thế được.
Bên cạnh những truyện ngắn hay, có hồn, có sức lôi cuốn mạnh mẽ thì vẫn còn những truyện rất đỗi bình thường. Lan Trì kiến văn lục tiếp nối dòng truyện truyền kì trong dòng truyện truyền kì trung đại Việt Nam.TS Nguyễn Đăng Na đã nói, đây là “tác phẩm cuối cùng của loại hình truyền kì Việt Nam thời trung đại” [32, tr419]. Vũ Trinh viết Lan Trì kiến văn lục vào thời gian ông ở ẩn nhẫn ở Hồ Sơn. Để viết được tập truyện này, Vũ Trinh đã dựa vào những gì mắt thấy tai nghe vào thời gian ông làm quan ở trong triều, vào cả thời gian ông lánh nạn.
Ở những khoảng thời gian khác nhau, ông tiếp xúc với những hạng người khác nhau, có thể là quan lại hay thường dân, những câu chuyện đồng quê, ngõ chợ, kết hợp với những điều trong sách vở thánh hiền. Tất cả đã được Vũ Trinh ghi lại một cách chân thực. Sáng tác của ông nói đến nhiều việc, nhiều truyện, lúc thật, lúc ảo, ảo thật lẫn lộn, nhưng ẩn sau đó là những nỗi niềm, những mong ước, những khát khao về sự yên bình tốt đẹp cho cuộc sống của con người. Nếu như những câu chuyện truyền kì trước đó sử dụng nhiều yếu tố kì ảo, tạo sự hấp dẫn cho tác phẩm, thì đến Lan Trì kiến văn lục, chúng ta lại thấy những câu chuyện hết sức đời thường, như truyện Kẻ trộm.
Truyện kể về một tên ăn trộm già đời, biệt hiệu là Mèo Khoét, mưu kế biến ảo, khách đi qua thường bị lừa. Rồi một lần, hắn gặp một ông khách, lấy được tiền bạc của ông khách đó, nhưng cuối cùng bị ông khách đó lấy lại. Tên trộm thấy người khách đó cao tay hơn mình, nên đến xin theo học. Người khách không chỉ cho tên trộm thủ thuật ăn trộm giỏi hơn mà hướng cho tên trộm thay đổi suy nghĩ, việc làm của mình.
Sau này, tên trộm trở thành một viên quan võ hạng nhất. Hay 25 là câu chuyện về một người con gái họ Nguyễn hiền lành, đức hạnh, lo cho người yêu ăn học thành tài, còn mình thì chịu số phận hẩm hiu trong truyện Ca kĩ họ Nguyễn. Đặc biệt, những câu chuyện trong Lan Trì kiến văn lục có tính xác thực. Vũ Trinh viết cụ thể rõ ràng tên, tuổi, quê, thời kì.
của các nhân vật và câu chuyện xảy ra. Đây là điểm khác biệt lớn trong truyện truyền kì ở giai đoạn này. Ông không đưa người đọc đến với thế giới kì ảo, bay bổng, mà đưa người đọc đến với hiện thực cuộc đời lúc bấy giờ.