mở đầu và kết thúc). Có thể nói, trong một tác phẩm văn xuôi, đặc biệt là truyện ngắn, yếu tố không thể thiếu đó là cốt truyện. Cốt truyện được coi là yếu tố đặc biệt quan trọng, là nơi xuất phát và quyết định của sự sáng tạo nghệ thuật. Nhà văn chưa thể sáng tác được nếu chưa có được một cốt truyện hấp dẫn.
Hay nói cách khác, sự lôi cuốn, hấp dẫn của cốt truyện sẽ góp phần tạo nên sức mạnh thuyết phục cho chủ đề và tư tưởng tác phẩm văn học. Ngôn ngữ nghệ thuật Ngôn ngữ nghệ thuật được sử dụng chủ yếu trong các tác phẩm văn chương có chức năng chủ yếu là xây dựng hình tượng nghệ thuật, tác động đến cảm xúc của người đọc, biểu hiện cái đẹp, khơi gợi nuôi dưỡng cảm xúc thẩm mỹ cho người đọc. Trong cuốn Sách giáo khoa Ngữ văn 10, tập 2 (Nhà xuất bản Giáo dục): “Ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ chủ yếu dùng trong các tác phẩm văn chương, không chỉ có chức năng thông tin mà còn thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người. Nó là ngôn ngữ được tổ chức, xếp đặt, lựa chọn, tinh luyện từ ngôn ngữ thông thường và đạt được giá trị nghệ thuật - thẩm mĩ” [38, tr.
Các nhà văn chọn lựa, chắt lọc, gọt giũa từ vốn ngôn ngữ chung trong kho tàng ngôn ngữ của nhân dân để sáng tạo nên thế giới ngôn ngữ của riêng mình. 17 c Theo Từ điển thuật ngữ văn học, ngôn ngữ nghệ thuật là “ngôn ngữ mang tính nghệ thuật được dùng trong văn học” [8, tr. 215], là một hệ thống tín hiệu hết sức phức tạp và chặt chẽ. Ta có thể khám phá ra rất nhiều lớp nghĩa trong những đơn vị (một từ, một câu hay một văn bản) mang thông tin.
Mỗi một tác phẩm là một tổng thể không thể tách rời. Tất cả các yếu tố của hệ thống đều là những dấu hiệu hướng vào sự thể hiện một thông điệp thống nhất. Chức năng quan trọng nhất của ngôn ngữ văn chương là chức năng thẩm mĩ, khác với ngôn ngữ phi nghệ thuật có chức năng quan trọng nhất là chức năng thông báo. Ngôn ngữ nghệ thuật vì thế xứng đáng giữ vai trò trung tâm của ngôn ngữ dân tộc; sự phát triển của ngôn ngữ dân tộc luôn luôn gắn với các tên tuổi các nhà văn, nhà thơ lớn Ngôn ngữ nghệ thuật có vai trò đặc biệt quan trọng trong mỗi tác phẩm bởi nó là yếu tố vật chất duy nhất trong tác phẩm văn học.
Qua ngôn ngữ, người đọc khám phá được về thế giới hình tượng, tư tưởng, quan niệm… mà nhà văn gửi gắm trong tác phẩm của mình. Ngôn ngữ nghệ thuật còn chứa đựng cả thế giới mà nhà văn sáng tạo, từ cảnh vật, con người, đến cốt truyện, kết cấu, chủ đề…Vì vậy, ngôn ngữ nghệ thuật trở thành phương thức tồn tại, phương thức biểu hiện của nội dung, đồng thời nó còn biểu hiện trực tiếp và rõ nét phong cách và tài năng của nhà văn. Khác với ngôn ngữ văn hóa, ngôn ngữ nghệ thuật mang dấu ấn, màu sắc riêng của từng tác giả, phản ánh nét độc đáo không lặp lại của mỗi nhà văn. Khi các nhà văn sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật, mỗi người lại có khả năng thể hiện một giọng điệu riêng, cách xử lí riêng tạo nên cá tính sáng tạo, phong cách đặc thù của mỗi tác giả.
Như vậy, ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ được sử dụng trong các tác phẩm văn chương. Nó là một loại ngôn ngữ phức tạp, mang chức năng chủ yếu là chức năng thông báo, thẩm mĩ thông qua sự cảm nhận về hình tượng nghệ thuật được xây dựng bằng chất liệu ngôn từ. Hành trình sáng tác của Hà Lâm Kỳ 1. Tiểu sử con người Nhà văn Hà Lâm Kỳ sinh ngày 18 tháng 07 năm 1952 tại làng Khe Liền, xã Đại Lịch, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái.
Đây là mảnh đất đầy ắp truyền thống văn hóa, lịch sử, thiên nhiên hùng vĩ, hữu tình. Bởi thế, trong lời tự bạch cho bộ phim tài liệu Nhà văn của nghĩa tình quê núi (Đài Phát thanh Truyền hình Yên Bái, tháng 3/2005), nhà văn từng viết: “Làng sinh ra tôi trong khói lửa chiến tranh Tôi nặng nợ với làng trăm năm không trả hết” Còn nhà thơ Ngọc Chấn lại từng chia sẻ: “Xã Đại Lịch, huyện Văn Chấn, quê hương của nhà văn dân tộc Tày Hà Lâm Kỳ với cảnh sắc thiên nhiên thật kỳ thú, nơi có những đỉnh núi mù sương, những con suối chảy qua làng ngàn năm ca hát, những nếp nhà sàn thấp thoáng trong rừng cây… những bà mế lên nương trong mùa rẫy, những bếp lửa nhà sàn ấm áp, những chõ xôi làm từ thân cây gỗ, đến ống cơm lam mang hương thơm đồng nội, những bậc cầu thang. tất cả đã đi vào trong trang viết của nhà văn” [2] Có thể nói, mảnh đất quê hương tươi đẹp đã phần nào tác động vào nhận thức, tình cảm của nhà văn Hà Lâm Kỳ. Tại chính mảnh đất ấy, ông được tiếp xúc với nền văn học nghệ thuật dân gian từ rất sớm.
Quê hương Đại Lịch là nơi hội tụ các điệu múa, hát và nhạc cụ dân tộc: then, lượn cọi, đàn tính của người Tày; xòe, khắp, kèn bè người Thái; vần va, múa mỡi người Mường; chèo người kinh từ Thái Bình lên khai hoang. Quê hương ấy còn là nơi trú quân của tướng Cần Vương Nguyễn Quang Bích, là ngôi đình có bát hương vẽ hoa văn con rồng, tạo nên bởi các cúc áo của các dân tộc…Tất cả những điều ấy dường như đã thấm vào từng trang viết của Hà Lâm Kỳ một cách thật nhẹ nhàng và tinh tế biết bao. Hà Lâm Kỳ yêu thích làm thơ ngay từ khi học cấp III, năm 1971 ông thi đỗ và trở thành sinh viên khoa Văn của trường Đại học Sư phạm Việt Bắc. Trong những tháng ngày nóng bỏng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, 19 c với nhiệt huyết của tuổi trẻ chàng sinh viên Hà Lâm Kỳ cùng nhiều sinh viên khoa Văn đã tự nguyện viết đơn bằng máu để xin nhập ngũ và đã được nhập ngũ ngày 30 tháng 5 năm 1972.
Với tư cách là y tá, chàng thanh niên Hà Lâm Kỳ đã đi chăm sóc sức khỏe cho đồng đội và cứu chữa nhiều chiến sĩ bị sốt rét nặng trên “đường Trường Sơn”. Khi hòa bình lập lại, Hà Lâm Kỳ quay trở lại trường Đại học Sư phạm Việt Bắc để học tập. Sau khi ra trường, Hà Lâm Kỳ đã gắn bó với quê hương, trực tiếp giảng dạy tại Trường Cao Đẳng Sư Phạm Yên Bái. Đến năm 1982 ông chuyển về làm công tác Đoàn, là Phó Bí thư Tỉnh đoàn Hoàng Liên Sơn (cũ).
Từ năm 1992- 1994, ông là chuyên viên tại Văn phòng Tỉnh ủy Yên Bái. Từ năm 1994, ông là Phó Giám đốc Sở Văn hóa thông tin tỉnh Yên Bái. Hiện nay, nhà văn Hà Lâm Kỳ đang sống cùng gia đình tại thành phố Yên Bái. Tuy tuổi đã khá cao, nhưng bằng nhiệt huyết với nghề, ông vẫn say mê sáng tác, nghiên cứu, phê bình, sưu tầm văn hóa, văn nghệ dân gian các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc.
Hành trình sáng tác Nhà văn Hà Lâm Kỳ có bút danh là Vi Hà. Tác giả từng chia sẻ: Bút danh ấy chính là sự kết hợp giữa họ Vi của người thầy đáng kính - nhà văn Vi Hồng (thầy giáo chủ nhiệm lớp đại học của tác giả) và họ Hà của chính bản thân mình. Bút danh ấy nói lên sự trân trọng và lòng biết ơn sâu sắc của tác giả đối với người thầy đã dìu dắt, định hướng và rèn rũa cho sự nghiệp văn chương của Hà Lâm Kỳ. Với chặng đường sáng tác hơn nửa thế kỷ, nhà văn Hà Lâm Kỳ đã sở hữu một số lượng tác phẩm đáng kể ở nhiều thể loại: Thơ, truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài, tiểu thuyết, bút kí, nghiên cứu phê bình… Vốn có niềm say mê văn chương từ nhỏ, từ ngày học cấp II, Hà Lâm Kỳ may mắn được thầy giáo Nguyễn Minh (thầy giáo từ Hà Nội lên) dạy văn.
Thấy Minh dạy rất hay nên đã tạo hứng thú học văn cho Hà Lâm Kỳ. Lên cấp III, niềm say mê ấy lại càng được nhân lên khi Hà Lâm Kỳ được sự dìu dắt của người thầy Nguyễn Ngọc Quế. Từ đây, Hà lâm Kỳ đã bắt đầu làm thơ, nhưng 20 c chỉ dám “viết cho mình đọc”. Cho đến khi học Đại học Sư phạm Việt Bắc, được sự chỉ dạy của thầy giáo Vi Hồng, Hà Lâm Kỳ đã “bập bẹ những đoạn văn ngắn, rồi mạnh dạn đem đến nhờ thầy sửa giúp, thầy tận tình chỉ ra cái dở mà chẳng hề chìa bút chữa”.
Năm 1972, khi Hà Lâm Kỳ cùng các sinh viên khoa Văn lên đường nhập ngũ, trong ba lô ông lúc này luôn thường trực hai cuốn sổ, một cuốn sổ để làm thơ và một cuốn sổ để ghi chép những điều mình đã từng trải nghiệm. Giữa năm 1974, không khí vận tải vũ khí, lương thực, thực phẩm vào chiến trường qua đường Tây Nguyên đã công khai. Hà Lâm kỳ chứng kiến cảnh ấy. Lại làm Quân y phục vụ cho các sĩ quan trung, cao cấp chuẩn bị cho chiến dịch, thêm không gian Tây Nguyên có mùa mưa, khô rõ rệt, Bộ Tư lệnh mặt trận lại chia Tây nguyên thành “hai cánh”: Cánh Bắc: Kom Tum, cánh Nam: Gia Lai và Buôn Mê Thuật.
Trong chiến tranh có thuật ngữ “tung thâm”, được hiểu là đánh vào trong điểm. Và tất cả ý đó đã được nhà thơ gói gọn trong Bài thơ (viết dưới dạng ca dao) Vào mùa: “Mùa mưa hai đứa hai nơi Mùa khô hai đứa hai trời xa nhau Vào mùa cùng một ước ao Được đi chiến dịch, được vào “tung thâm”. Bài thơ được đăng trên trang nhất của báo Tây Nguyên tháng 10 năm 1974. Đến tháng 3 năm 1975, báo Tây Nguyên đăng lại và đổi tên thành Ước ao.
Có thể nói, thơ Hà lâm Kỳ không phải là sự sắp đặt các câu chữ cầu kỳ mà cảm xúc tự nhiên bộc bạch thành lời. Là người con của dân tộc Tày, Hà Lâm Kỳ đã học tập được kinh nghiệm của những cây viết Lão Thành như Nông Quốc Chấn, Bàn Tài Đoàn, Hoàng Hạc hay lớp bạn văn đương đại như Mai Liễu, Lò Ngân Sủn, Dương Thuấn, Y Phương… song sự tiếp nhận vốn văn hóa truyền thống trong lời kể của bà, lời ru của mẹ cũng trở thành những nguồn thi liệu phong phú cho các sáng tác thơ của Hà lâm kỳ.