Chương 1. Vài nét về nhà văn Trung Trung Đỉnh và tiểu thuyết của. Trung Trung Dinh. Ngh@ thudt te sw trong tiéu thuyét Lac ring va Linh tran qua hình tượng người kể chuyện.
Nghệ thuật tự sự trong tiễu thuyết Lạc rừng và Lính trận qua kết cầu, ngôn ngữ, giọng điệu. NỘI DUNG CHUONG 1 VAI VET VE NHA VAN TRUNG TRUNG BIN} VA TIEU THUYET TRUNG TRUNG DINE 1.1, VALNET VE NHA VAN TRUNG TRUNG DINH 1. Từ người *lính trận” đến nhà văn Trung Trung Đỉnh tên thật là Phạm Trung inh, sinh ngày 21 tháng 09 năm 1949, trong một gia ih nông dân tại làng Sưa, xã Vĩnh Long, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Lúc mới 17 tuổi, đang học phỏ thông, ông đã có giấy.
goi nhập ngũ. Tháng 6 năm 1968, ông chính thức thành "lính trận”. Cuộc đời quân ngũ của ông chủ yếu gắn với vùng Tây Nguyên. Năm 1971, vì nhiều lí do khi c nhau, ông thành "lính địa phương” thuộc tỉnh đội Lai, đồng quân ở An Khê.
Tại đây, Trung Trung Đinh đã từng làm rất nhiều công việc khác. nhau, không chỉ tham gia chiến đấu, mà còn làm nương rẫy, săn thú rừng, thậm chí làm y tá bắt đắc dĩ. Thời gian này, ông đã học tiếng Ja ra, rồi Bah nar. Day chính là cơ duyên dé Tây Nguyên trở thành quê hương thứ hai của Trung Trung Đỉnh, và là nguồn cảm hứng sáng tác không cạn trong nghiệp cầm bút của ông.
cub năm 1974, ông được cử đi học khóa chiếu bóng. Đầu năm 1975 thì “tốt nghiệt ". Sau ngày đất nước thống nhất, ông được phân công làm đội trưởng đội chiếu bóng, mang phim đi phục vụ bộ đội và bà con ở các vùng, thuộc Gia Lai ~ Kon Tum suốt hai năm. Nam 1977, Trung Trung Dinh thi đỗ vào trường Cao đẳng Văn hóa Đà Nẵng.
Mới nhập học được ít lâu, nhà văn Nguyén Cl rung đã đưa ông về Trai sing tác quân khu V. Đây là bước khởi tập đượt để ông bước vào cuộc đời người lính cằm bút. Theo binh nghiệp suốt gần bốn mươi năm, ông chuyển ngành với quân hàm đại tá, từ đó chuyên tâm cho hoạt động văn nghệ. Sau khi nghiệp” Trại sáng tác quân khu V, ông được đưa trở lại Tây Nguyên.
Những chuyến đi thực tế truy quét Fulro hay nằm lại ở vùng biên tham gia tiểu trừ bọn Pôn Pốt đã cung cấp thêm cho ông vốn sống thực tế phong phú, trở thành nguồn cảm hứng cho những sắng tác của Ong sau này. Năm 1984, Trung Trung Đỉnh đã tốt nghiệp Trường viết văn Nguyễn Du. khóa Ivà trở thành Hội viên Hội nhà văn Việt Nam. Đến nay, dù bận rộn với công tác quản lí (hiện nay ông là Giám đốc Nhà xuắt bản Hội nhà văn, sống.
tại Hà Nội), ông vẫn không quên dành thời gian cho việc sáng tác Là một người con đất cảng, nhưng phần lớn tuổi trẻ của ông lại gắn bó với Tây Nguyên, một vùng đắt “vừa quen vừa lạ” (Lính trận), nơi hoàn toàn khác biệt với Hải Phòng về phong thổ, văn hóa. Việc được sống gần gũi, gắn bó máu thịt với dồng bảo các dân tộc nơi đây, đã góp phần tạo nên một Phạm Trung Dinh trung thực, nhiệt tỉnh như cảm nhận của một người nước ngoài, một “kẻ lạc rừng hỗn nhiên” như có người từng nhận xét Từ thời trẻ, Trung Trung Đỉnh đã có “máu văn chương”. Cái máu ấy biểu hiện ở sự thích “xê dịch”, ham chơi và lỗi sống ngẫu hứng. Nó cũng thể hiện ở sự ngưỡng mộ các nhà văn, nhà thơ, ở niềm đam mê đọc sách.
Từ một người linh, cái máu văn chương ấy cùng với cơ duyên đã giúp ông trở thành nhà văn. Cái duyên ấy bắt đầu từ một lần tình cờ, sau một trận đánh ở đồn An Khê, ông nhặt được cái máy chữ kèm hai cuộn giấy do địch bỏ lại. khôn xiết, ông đã mang nó về hang đá, vừa nghĩ cốt truyện, vừa tập đánh máy. Kết quả là truyện ngắn đầu tay "Những khác coong chưng" ra đời, được.
n trên số tạp chí đầu năm 1972 của tờ Văn nghệ Quân giải phóng. Nó đã gây được sự chú ý của các văn sĩ đàn anh, là bằng chứng để ông nhận ra khả năng. Đây là bước khởi đầu của một nhà văn mặc áo lính. Tuy nhiên, không phải ông có được độ “chín” ngay từ đầu.
Để trở thành một nhà văn chuyên nghiệp đối với ông là cả một quá trình "khổ sai cùng chữ nghĩa”. Ngoài việc được tiếp xúc trong một môi trường chuyên nghiệp ở Trại sáng tác quân khu V và Trường viết văn Nguyễn Du, ông còn luôn cổ gắng đi thực ế, nhắc nhở bản thân phải không ngừng đọc. Chính những nỗ lực học hỏi từ các đồng nghiệp, qua trường lớp, qua thực tế và qua sách vở đã giúp. ông tích lũy được nhiều kiến thức, kinh nghiệm.
Hơn nữa, chính tâm niệm "tác phẩm quan trọng nhất tôi vẫn còn. chưa viết ra” [6T] đã luôn thôi thúc. ông tiếp tục “đọc, suy ngâm, tìm tòi không biết chán” (Hộ - Đời thừa, Nam Cao). Ching tôi cho rằng, đây là một trong những phẩm chất cần thiết nhất đối với một nhà văn chuyên nghiệp.
Nó là nhân tố quan trọng tạo nên những. trang viết giá trị. 'Với Trung Trung Đinh, sự hòa quyện giữa chất “lính trận” với chất nghệ sĩ đã giúp ông có nhiều thuận lợi trong sáng tác. Là một người nghệ sĩ, ông dĩ nhiều nơi, được sống, làm việc trong những môi trường khác nhau, gặp gỡ, tiếp xúc với nhiều người; là một người lính, ông giữ vững được lập trường, quan điểm của mình trong ngồi bút, không chạy theo những ảo vọng xu thời trong giai đoạn văn học Việt Nam có nhiều biến động, nhất là từ sau những.
năm đổi mới đến nay. Chính những đi đó đã giúp ông luôn giữ đúng cái tạng của mình, dù đó là thể loại truyện ngắn hay tiểu thuyết. Hành trình tiểu thuyết của Trung Trung Đỉnh. Ham xê dịch, rong ruối khắp nơi, Trung Trung Đỉnh chưa bao giờ chịu đứng yên một chỗ.
Có thể nói, nếu cuộc đời ông giống một người dân dự mực, thì sáng tác của ông giống việc đư canh. Ông luôn “xê dịch” từ thể loại này. sang thể loại khác. Trước khi đến với tiểu thuyết, ông đã có một thời gian “canh tác” trên thể loại truyện ngắn.
Với sự cẩn trọng và tận tụy, ông đã có được năm tập truyện ngắn. Chỉ với thể loại này, ông đã có được một chỗ dứng trân trọng trên văn đàn văn xuôi đương đại. Ngoài ra ông còn viết cả thơ, trường ca và kịch bản phim. Thời gian sau này, ông chuyên tâm “canh tác” trên mảnh vườn tiểu thuyết.
Liên tiếp sau Ngược chiểu cái chết (1988), Ngo rhiing (1990) và Tiễn biệt những ngày buôn (1990) đã gây được sự chú ý. Lạc rừng và Lính trận đã giúp ông có được những giải thưởng danh giá. Đó là cơ sở để ông, được nhận Giải thưởng Nhà nước về văn học và nghệ thuật năm 2007. Không, phải ai cũng có được những niềm vui, niềm vinh dự ấy.
Từ một cây bút truyện ngắn, Trung Trung Đỉnh đã có được tiền đề quan trọng khi chuyển sang viết tiểu thuyết. Bởi đây là hai loại thể có quan hệ gần gũi nhau, đến mức đôi khi người ta khó có thể phân biệt chúng một cách rõ ràng. Có nhiều lúc chúng hòa vào nhau. Nếu truyện ngắn được coi là đoán kiểm, thì tiểu thuyết chính là trưởng thương.
Một nhà văn giỏi là người có thể. sử dụng thành thạo hai loại vũ khí ấy. Tắt nhiên nói thể không phải là hạ thấp những người chỉ chuyên sử dụng một thứ vũ khí duy nhất. Đến với tiểu thuyết, Trung Trung Định muốn mở rộng trường nhìn và.
phạm vi phản ánh hiện thực, giúp nhà văn tái hiện bức tranh đời sống toàn diện, sâu sắc, đa chiều hơn. Nhưng cũng vì thế, người viết tiểu thuyết khó nhọc hơn nh. vì còn phải nại ngẫm, chiêm nghiệm, nghĩ và sống với nhân vật của mình. Đọc các tiểu thuyết của ông, chúng tôi có cảm giác rằng, hình như Trung Trung Đinh chỉ mới viết một tác phẩm.
Các văn bản với tên gọi khác nhau chỉ là những phần khác nhau của tác phẩm ấy. Chúng ta dễ đàng tìm thấy các bằng chứng thể hiện mối quan hé “nhiéw (rong một” ở các tiểu thuyết của ông. Quan niệm sáng tác của Trung Trung Đỉnh Trung Trung Đinh, qua những lần trò chuyện, qua trả lời phỏng vấn trên các báo, và đặc biệt là qua chính những tác phẩm, ông đã nói lên một số quan niệm sáng tác. Những quan điểm ấy thể hiện tập trung ở mấy luận điểm chính sau đây, Thứ nhất, nhà văn phái và chỉ làm công việc của nhà văn.
Mới nghe qua, cứ tưởng như đó là lời nói thừa. Nhưng đây là một điều rất cần thiết. Từ phía người cầm bút, anh không được lợi dụng văn học để làm những điều phi văn học, vì một mục đích nào đấy; đối với các nhà quản lí, không được bắt nhà văn chuyên tâm phục vụ chính trị. Văn học có chức năng, nhiệm vụ riêng của nó.
Không phải người ta không nhận thức được điều gần như là hiển nhiên ấy. Nhung trong thực tế, không ít nhà văn, vì những lí do khác nhau, đã không, (hay không được) làm đúng chức năng, nhiệm vụ của mình. Với Trung Trung Đinh: “Điều cốt tử của một nhà văn là viết văn, tức là sáng tác”. Sáng tạo là yêu cầu sống còn của nghệ sĩ.
Nam Cao đã từng nhắc nhở “Văn chương không cần những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. ăn chương chỉ dung nạp những người biết đào s‹ biết tìm tôi, khơi những. inguén chưa ai khơi, và sắng tạo những gỉ chưa có” [10, tr. Trung Trung Đình nhắc lại và bỗ sung thêm: “nhd văn không phải là cải may photocopy, không phải anh thợ chụp ảnh, càng không phải anh cân bộ công chức.
Nhà văn là người sắng tạo. Đặc thù của tự duy sáng tao trong văn học là trí tưởng, tượng, tài hư cấu” [6T]. Sự hư cấu sáng tạo đó phải phủ hợp với đặc trưng. văn học, với đặc điểm của thời đại.
Ông cũng lưu ý, nếu “viết văn mà làm văn quá là phản văn” [63]. Các nhà văn không nên chỉ chạy theo hình thức, với việc thay bình đối vỏ thuần túy. Sự sáng tạo, đổi mới phải gắn liền với những. giá trị nghệ thuật đích thực va sâu sắc.
Điều này được Trung Trung Đỉnh thé hiện trong một số tác phẩm của ông. ‘Tit nhiên, để làm được như thế không phải dễ, Trung Trung Đinh, trong. tiểu thuyết Tiển biệt những ngày buôn, đã qua nhân vật Xoay để nhắc lại cách làm cứng nhắc của những người quản lí văn nghệ. Xoay đã kiên quyết khước.