đặt vấn đề phân biệt so sánh logic với so sánh tu từ mà chủ yếu tiến hành khảo sát hình thức biểu hiện của so sánh, chủ ý nhấn mạnh đến kết sấu đặc thù của tiếng Việt. * Cù Đình Tú trong “Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt” quan niệm so sánh tu từ cơ bản không có sự khác biệt nhiều so với quan niệm của Đinh Trọng Lạc. Tuy nhiên, tác giả đã đưa ra khái niệm dễ hiểu hơn về so sánh tu từ “So sánh tu từ là cách công khai đối chiếu hai hay nhiều đối tượng cùng có một dấu hiệu chung nào đấy (nét giống nhau) nhằm diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm của một đối tượng” [61]. 9 Cù Đình Tú đã dựa trên mối quan hệ cơ bản của ngôn ngữ là quan hệ kết học và quann hệ liên tưởng để phân chia cách cách tu từ.
tác giả khẳng định so sánh tu từ là cách tu từ dựa trên quan hệ liên tưởng, đặt so sánh logic bên cạnh so sánh tu từ để phân biệt chúng một cách cơ bản. Tác giả đưa ra kết luận: Ở so sánh logic, cái được so sánh và cái so sánh là các đối tượng cùng loài và mục đích so sánh là xác lập sự tương đương giữa các đối tượng, còn ở so sánh tu từ, các đối tượng được đưa ra so sánh là đối tượng khác loài và mục đích so sánh là nhằm diễn tả một hình ảnh đặc điểm của đối tượng. Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã khảo sát cấu tạo của so sánh tu từ cả về mặt hình thức lẫn mặt nội dung. - Về hình thức, tác giả cho rằng so sánh tu từ gồm hai vế: vế được so sánh (A) và vế so sánh (B).
hai về này gắn với nhau lập thành những hình thức so sánh theo công thức: (1) A như B (2) A bao nhiêu B bấy nhiêu (3) A là B (4) So sánh không dùng từ so sánh do chịu sự chi phối của luật thi ca - Về nội dung, tác giả nhận thấy đối tượng nằm trong các vế so sánh tu từ là khác loại nhưng lại có một nét nào đó giống nhau, tạo thành cơ sở hình thành so sánh tu từ. Nét giống nhau khi biểu hiện ra bằng từ ngữ cụ thể, ta có so sánh tu từ nổi và ngược lại, khi nó không được biểu hiện bằng từ ngữ cụ thể mà lẫn vào trong hai vế so sánh khiến người đọc phải tự tìm, ta sẽ có so sánh tu từ chìm. Theo Cù Đình Tú, một so sánh tu từ hay phải thỏa mãn được hai điều kiện: các đối tượng đưa ra so sánh phải khác loài và phát hiện đúng nét giống nhau của hai đối tượng. Nhà văn phải phát hiện ra nét giống nhau chính xác một cách bất ngờ, điều mà người khác không để ý, không thấy được.
Tác giả còn khẳng định, do mang chức năng nhận thức và chức năng biểu cảm, cấu tạo đơn giản nên so sánh tu từ được dùng trong nhiều phong cách chức năng 10 khác nhau. Cù Đình Tú đã góp phần quan trọng trong việc xây dựng những tiêu chí để nhận diện chính xác phép so sánh tu từ cả về nội dung lẫn hình thức. * Nguyễn Thái Hòa trong “Phong cách học Tiếng Việt” cũng đưa ra khai niệm: “So sánh tu từ là phương thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này đối chiếu với sự vật khác miễn là hai sự vật có nét tương đồng nào đó, để gợi ra những hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mĩ trong nhận thức của người đọc, người nghe”. Tác giả phân biệt sự khác nhau giữa so sánh logic với so sánh tu từ ở tính hình tượng, tính biểu cảm và tính dị loại của sự vật.
tác giả nêu lên cấu trúc đầy đủ của so sánh tu từ, gồm bốn yếu tố: Cái so sánh Cơ sở so sánh Từ ngữ so sánh Cái được so sánh Cổ tay em trắng như ngà Con mắt em liếc như là dao cau Tuy nhiên, tác giả nhận thấy không phải lúc nào so sánh tu từ cũng biểu hiện đầy đủ như vậy. Tùy từng trường hợp cụ thể có thể đảo trật tự so sánh hoặc ẩn đi một số yếu tố nào đó. Mỗi kiểu biến thể trên là một kiểu so sánh tu từ. Với những nhận định trên, không những tác giả đã nêu rõ các yếu tố trong cấu trúc hình thức mà còn đề cập đến cấu trúc bề sâu của so sánh tu từ.
Đồng thời, tác giả đã phân biệt một cách cơ bản so sánh tu từ với so sánh logic. * Nguyễn Thế Lịch trong bài viết “Cấu trúc so sánh trong Tiếng Việt” (tạp chí Ngôn ngữ, số 7 năm 2001) quan niệm “So sánh là đưa một vật ra xem xét sự giống nhau, khác nhau, sự hơn kém về một phương diện với một vật khác được coi là chuẩn. Có thể không phải chỉ một mà nhiều sự vật, nhiều thuộc tính được so sánh”. Tác giả khẳng định cái hay của so sánh tu từ chính là ở chỗ hai sự vật đưa ra so sánh khác loài mà lại có phương diện chung.
Tác giả cũng nhấn mạnh so sánh tu từ, ngoài giá trị nhận thức phải có tính hình tượng, tính biểu cảm. Thiếu những tính này thì chưa thể gọi là so sánh tu từ. 11 Tác giả Hữu Đạt trong “Phong cách học Tiếng Việt hiện đại” thì cho rằng “Thực chất của phép so sánh tu từ là dùng thuộc tính hay tình trạng của sự vật hay hiện tượng này giải thích cho thuộc tính hay tình trạng của sự vật hiện tượng khác” [21]. Mô hình khái quát của so sánh là A-X-B, trong đó A là cái chưa biết được đem ra so sánh, B là cái đã biết được dùng để so sánh, X là phương tiện so sánh.
Như vậy, các nghiên cứu lý thuyết về so sánh tu từ cho đến nay là khá nhiều và tương đối ổn định. Tuy nhiên, luận văn chủ yếu sử dụng quan niệm về so sánh tu từ của hai tác giả Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa trong Phong cách học tiếng Việt (NXB GD.1995): “So sánh là phương thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này đối chiếu với sự vật khác miễn là giữa hai sự vật có một nét tương đồng nào đó, để gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mĩ trong nhận thức của người đọc, người nghe”. Cấu trúc của so sánh tu từ 1. Cấu trúc hình thức Theo cấu trúc so sánh của hai tác giả Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa, hình thức đầy đủ nhất của phép so sánh tu từ gồm bốn yếu tố: Yếu tố 1: Cái so sánh (CSS) Yếu tố 2: Cơ sở so sánh (CSSS) Yếu tố 3: Từ so sánh (TSS) Yếu tố 4: Cái được so sánh (CĐSS) Luận văn miêu tả từng yếu tố dựa trên hai tiêu chí: cấu tạo hình thức và ý nghĩa biểu hiện a.
Yếu tố 1: Cái so sánh (CSS) * Hình thức cấu tạo: - CSS được cấu tạo bởi một từ: Tình như cơn bão mồ côi Từ trong cát bụi xa xôi tìm về 12 - CSS được cấu tạo bởi một cụm từ: Đời tôi như một con diều Đứt dây để trống cả chiều ngẩn ngơ - CSS được cấu tạo bởi một cụm chủ - vị: Anh nhớ em như đông về nhớ rét * Ý nghĩa: CSS biểu thị đối tượng cụ thể hoặc trừu tượng b. Yếu tố 2: Cơ sở so sánh (CSSS) * Hình thức cấu tạo: - CSSS được cấu tạo bởi một tính từ là định ngữ cho danh từ: Mái tóc dài như một tiếng chiêng - CSSS được cấu tạo bởi một động từ chỉ hoạt động: Hơi gió thở như ngực người yêu đến * Ý nghĩa: - Biểu thị một thuộc tính của sự vật - Biểu thị một hành động của sự vật Đối với những cấu trúc so sánh vắng CSSS, người đọc phải liên tưởng để tìm ra nét tương đồng giữa CSS với CĐSS, chọn lọc trong số những thuộc tính đó, xem thuộc tính nào là mục đích sử dụng của tác giả. Quá trình tiếp nhận ấy chính là quá trình đồng sáng tạo với tác giả. Một so sánh tu từ hay phải gợi được nhiều liên tưởng ở người đọc.
Ở đó, CSSS không chỉ dừng lại ở một thuộc tính, một phương diện mà được mở rộng theo liên tưởng của người tiếp nhận. Yếu tố 3: Từ so sánh (TSS) * Hình thức cấu tạo: - Những TSS chỉ mức độ tương quan ngang bằng: như, như là, tựa như, dường như, như thể, tựa hồ… Cả đời buộc bụng thắt lưng Mẹ như tằm nhả bỗng dưng tơ vàng 13 - Những TSS chỉ mức độ hơn kém: bao nhiêu…bấy nhiêu, không gì…bằng… Không gì vui bằng mắt Bác Hồ cười - TSS “là” (mang sắc thái khẳng định) Quê hương là con diều biếc Tuổi thơ con thả trên đồng - Trong cấu trúc so sánh, TSS có thể lược bớt, ẩn đi Con đò nửa mặt trăng cong Chênh vênh trên một dòng sông lở bồi d. Cái được so sánh (CĐSS) * Hình thức cấu tạo: - Biểu thị một sự vật, một thuộc tính hay một hành động Dù ai nói ngả nói nghiêng Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân - Biểu thị nhiều sự vật, nhiều thuộc tính hay nhiều hành động Đôi ta như lửa mới nhen Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu * Ý nghĩa: - CĐSS mang nghĩa vốn có của từ tạo nên nó - CĐSS mang hình ảnh: + Hình ảnh mang tính chất gợi: Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần + Hình ảnh mang tính chất tả: Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm? Nàng là hương hay nhan sắc lên hương? - CĐSS thể hiện các cấp độ: phóng đại, ngang bằng, giảm nhẹ CĐSS được hiểu là chuẩn của sự so sánh nên không thể vắng mặt trong cấu trúc so sánh, quyết định mọi giá trị của so sánh tu từ. Nó là kết quả của quá trình quan sát, liên tưởng, lựa chọn và qua đó, cái tôi độc đáo của tác giả 14 được bộc lộ.
Sự lựa chọn CĐSS là sự lựa chọn có ý nghĩa. Nó bộc lộ cách đánh giá, thái độ nhìn nhận thế giới, tài năng, phong cách của tác giả. Cấu trúc nghĩa Trên phương diện nghĩa, so sánh tu từ được chia thành hai kiểu: So sánh tu từ nổi và so sánh tu từ chìm. * So sánh tu từ nổi: Là kiểu so sánh mà nét tương đồng giữa CSS và CĐSS (cơ sở so sánh) được bộc lộ ra ở trong phép so sánh bằng từ ngữ cụ thể.