mở đầu tác phẩm bằng một cảm giác của người trần thuật xuất hiện ở ngôi thứ nhất xưng là tôi: “Một ngày tôi chợt nhận thấy cuộc sống thật buồn chán và tẻ nhạt. Năm đó tôi lên tám” [1, tr. “Tôi” ở đây là nhân vật trung tâm trong tác phẩm. “Tôi” chính là thằng cu Mùi và cùng với nó là Tý sún, Hải cò, con Tủn làm nên những cuộc phiêu lưu k thú cho riêng mình: Đặt tên cho thế giới, lập trang trại chó hoang.
Nhân vật cu Mùi đã tham gia và kể lại diễn biến những trò chơi, những kỷ niệm vui buồn vì thế mà tính chất sự việc thật hơn. Người đọc chúng ta cảm thấy sự chính xác trong những lời kể đó. Nhân vật “tôi” - thằng cu Mùi đã rất quả quyết khẳng định rằng: “Tôi không phải là trái đất. Tôi là thằng cu Mùi” [1, tr.
Tham gia là vai trò người kể chuyện còn có một nhân vật xưng là cu Mùi khi đã ở tuổi trưởng thành. Cu Mùi dẫn dắt câu chuyện về quá khứ. Thêm vào đó là sự so sánh dí d m đã làm nổi bật lên sự khác biệt giữa hai thế giới trẻ em và người lớn: “Với người lớn ý nghĩa và giá trị của mọi thứ trên đời đều thu gọn vào hai chữ chức năng. Trẻ con không quan tâm đến chức năng.
Đơn giản vì trẻ con có kho báu vô giá: óc tưởng tượng”. Sử dụng ngôi kể thứ nhất để kể chuyện, nhưng dường như Nguyễn Nhật Ánh không phải chỉ kể về riêng mình, về thời thơ ấu của bản thân mà nói đến một thằng cu Mùi nào đó. Có thể nói, Nguyễn Nhật Ánh đã sáng tạo nên một nhân vật “tôi” trẻ hóa và rất điển hình với mong ước cũng rất điển hình của trẻ nh. Nhân vật “tôi” 16 z thằng cu Mùi không bị chi phối bởi cái nhìn của một người lớn đang hình dung về tuổi thơ của mình.
Cái hay của nhân vật “tôi” - cu Mùi là ở chỗ nó vừa là “tôi” lại vừa là nhân vật độc lập - một đứa trẻ với tất cả những đặc thù và tính cách của lứa tuổi thiếu nhi. Cũng như truyện Cho tôi xin một vé i tuổi thơ, truyện Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh, người kể chuyện bộc lộ ngay từ nhan đề tác phẩm. “Tôi” ở đây là nhân vật chính trong truyện và nhân vật chính này đã kể lại diễn biến câu chuyện. Nhân vật chính - Thiều đã tham dự vào cốt truyện và chứng kiến mọi chuyện: Chuyện xem hoa tay, chuyện ma, chuyện mối tình đầu, chuyện đánh nhau.
Trong khi kể chuyện chính Thiều đã bộc lộ cảm xúc một cách trực tiếp: “Tôi không nói gì chỉ gật đầu lặng lẽ rời kh i nhà. Tôi giống như một phạm nhân vừa được tòa tuyên bố tha bổng. Vậy mà khi đã thoát nạn rồi tôi ngạc nhiên chẳng thấy lòng mình vui sướng” [2, tr. Trong tác phẩm này, Nguyễn Nhật Ánh đã lựa chọn một nghệ thuật tự sự hấp dẫn, phù hợp với lứa tuổi thiếu nhi.
Điểm độc đáo và thành công nhất chính là nghệ thuật y dựng nh n vật ngƣời kể chuyện mang cái nhìn trẻ thơ, mang tâm hồn trẻ thơ. Có thể nói, làm lạ hóa thế giới hiện thực từ cái nhìn trẻ thơ là điểm thành công trong nghệ thuật kể chuyện của Nguyễn Nhật Ánh. Để viết được truyện này, Nguyễn Nhật Ánh luôn giữ trong tâm hồn mình một chú bé chưa chịu lớn và khi viết thì luôn hồn nhiên như cậu học trò ngồi kể chuyện về đời mình. Chính Nguyễn Nhật Ánh đã từng bộc bạch: Có lẽ trong tôi luôn luôn sống mãi tuổi mười lăm.
Mỗi lần tôi viết một tác phẩm tuổi mới lớn cũng giống như một cậu học trò ngồi viết nhật ký đời mình vậy, rất tự nhiên, không có gì phải lên gân hay gượng gạo cả. Có lẽ do tâm hồn tôi gần gũi với tâm hồn của các em nên những gì tôi viết ra, các em cảm thấy như chuyện của chính mình”. Ở đây Thiều đã cảm nhận về cái vất vả, đói kém của gia đình sau mùa lũ: “Tôi có thể nhìn thấy sự đói kém hiển hiện từng ngày trong mân cơm. Cá thịt thưa thớt dần, có hôm mất tích hẳn.
Thỉnh thoảng có bữa tôm rang thì con nào con nấy mặn chát, muối bám xung quanh con tôm trắng xóa như tuyết. Chỉ với một con tôm đó, tôi ăn ba chén 17 z cơm. Dĩ nhiên thằng Tường và con Mận, tôi đều không hề than vãn nhưng nhìn vẻ mặt kém tươi của tụi tôi, có lẽ mẹ tôi nghe được những thở dài chạy quanh mâm cơm và cảm giác đó khiến bà vô cùng xót ruột” [2, tr. Là tâm trạng ân hận của Thiều khi làm Tường bị thương vì trò chơi chọi đá: “Tôi đáp, bụng ngập tràn hối hận.
Tôi đã lừa em tôi, tôi đã làm nó bị thương. Tôi tự hứa với mình: mai mốt nếu thằng Tường có gặp phải hoạn nạn gì, bị ba tôi phạt đánh đòn vì tội ham chơi b bê bài vở chẳng hạn, tôi sẽ xung phong nhận tội thay nó, tôi sẽ nói với ba tôi là chính tôi xúi thằng Tường đi chơi. Có lẽ nếu không hóa thân trọn vẹn vào trẻ thơ, không sống thật sâu với tâm hồn trẻ thơ. thì Nguyễn Nhật Ánh không thể nào diễn tả những suy nghĩ, cảm xúc từ trong sâu thẳm trái tim của Thiều một cách chân thực, cảm động như thế.
Có thể nói, chính với điểm nhìn trong trẻo của nhân vật người kể chuyện xưng “tôi”, tác phẩm đã trở nên rất đỗi thân thương với trẻ thơ. Việc tác giả lựa chọn người kể chuyện là một nhân vật trong truyện xưng tôi tự kể lại chuyện mình đã tạo nên được sự gần gũi giữa độc giả và người kể chuyện. Nguyễn Nhật Ánh từng nói rằng: khi đặt chữ “tôi” vào ngòi bút của mình. Và khi ông hóa thân vào “tôi”, đó là cách hữu hiệu nhất để ông tìm về kí ức tuổi thơ.
Câu chuyện qua lời kể của người trần thuật tham gia vào cốt truyện “ tôi cảm giác mùa hè khắc nghiệt sắp sửa trôi qua” [2, tr. Chính cách kể chuyện này đã làm cho câu chuyện hấp dẫn hơn, lôi cuốn người đọc hơn. Câu chuyện hay và hấp dẫn không kém với người đọc là cách sử dụng ngôi kể thứ nhất xưng “tôi” được thể hiện ngay trong nhan đề và cách xưng tên nhân vật trong Tôi à Bêtô. “Tôi là Bêtô.
Đó là cái tên chị Ni đặt cho tôi Bêtô. Đúng ra cái tên ban đầu là Bêbêtô”[6, tr.1] - tên của một cầu thủ bóng đá đội Brazil. Người kể chuyện xưng “tôi” - ngôi kể thứ nhất gắn với những quan sát, suy nghĩ và hành động của chú cún con. Lựa chọn người kể chuyện đặc biệt như thế, tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh đã bắc một nhịp cầu quen thuộc với kiểu truyện đồng thoại vốn rất gần gũi với trẻ em trong sáng tác của Võ Quảng, Tô Hoài.
18 z Ở đây người kể không chỉ kể mà còn đóng vai nhân vật. Do vậy câu chuyện càng trở nên hấp dẫn hơn. Với lối kể này hiện thực sáng tạo nghệ thuật trở nên gần gũi với người đọc và giá trị thẩm mỹ của tác phẩm cũng dễ dàng đến với họ hơn. Nhân vật người kể chuyện ở ngôi kể thứ ba Đối lập với loại truyện kể ở ngôi thứ nhất - người kể xuất hiện trực tiếp xưng “tôi” hoặc “chúng tôi” là loại truyện kể mà người kể chuyện không được biểu thị trực tiếp bằng đại từ ở ngôi thứ nhất - thường được gọi là “truyện kể ở ngôi thứ ba” và người kể chuyện trong trường hợp này là “người kể chuyện ở ngôi thứ ba” hay “người kể à nhân vật”.
H ỏ của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh làm người đọc mê say. Mỗi lần giở sách, người đọc như mơ màng nhớ về tuổi học trò của mình! Qua lời kể của Chương, hình ảnh phượng đ đã khiến người đọc hình dung khá rõ về tâm trạng nôn nao, hòa quyện những kỷ niệm của nhân vật trong năm tháng ngồi trên ghế nhà trường. Nguyễn Nhật Ánh đã dẫn người đọc trở về những chuyến nghỉ hè thú vị được vui cùng bạn bè, gia đình. Khi người kể chuyện kể về mùa hè đến mang theo niềm vui của những tháng ngày vô tư nô đùa trên đồng ruộng, bên cạnh con suối nh vẫn thường là nơi tập kích đánh nhau hay những buổi trưa hè nơi vườn trái cây mát rượi.
Anh khắc hoạ một tình bạn gắn bó, một cử chỉ đẹp mà Chương đã mang lại cho những đứa trẻ làng Hà Xuyên. Chương mang đến sự thuận hòa, cho Út Thêm một niềm vui giản dị, ấm áp. Bao giờ cũng thế, truyện của Nguyễn Nhật Ánh luôn mang đến cho người đọc những cung bậc cảm xúc thật nhẹ nhàng, êm ái, sâu lắng. Khi kể về hình ảnh cô bạn Út Thêm xuất hiện, Nguyễn Nhật Ánh miêu tả cảm giác trong Chương khiến lòng chúng ta cũng lâng lâng.
Út Thêm xuất hiện như một làn gió mát nhẹ, thoảng qua trên những bông lúa non ngoài đồng ruộng mênh mông. Tất cả đã mang đến một luồng gió mát lành cho Chương, cho Út Thêm, cho những đứa trẻ làng Hà Xuyên, cho cả những bạn nh khi đọc các truyện của anh hay nói rộng hơn là cho 19 z chúng ta - những người đang cầm trên tay quyển truyện này, nâng niu, trân trọng nó với cảm xúc bay bổng. Người đọc thích câu chuyện này còn ở cái mơ mơ màng màng của tuổi mới lớn, tuổi sắp làm người lớn. Phải chăng vì thế mà ai cũng thích nhân vật Chương.
Cậu đã trải qua một mùa hè đáng nhớ với bao cung bậc cảm xúc: vui, buồn hòa lẫn với cái lơ lơ lửng lửng trong cảm xúc của mối tình đầu tiên. Nụ cười của Út Thêm chỉ mãi là hình ảnh trong những giấc mơ đêm về của Chương. Người đọc còn xúc động bởi đằng sau mùa hạ đ là nỗi buồn của những đứa trẻ nơi quê nghèo. Mùa hạ là phượng đ , là nắng gắt, là vui chơi sau một năm học căng thẳng, còn đối với những đứa trẻ sớm tảo tần, mùa hạ là phụ giúp cha mẹ, mùa nắng cháy trên những cánh đồng khô nẻ chân chim.
Mùa hạ vui chơi thật xa vời. Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều đưa ra những nhận định gần như tương đồng nhau khi nói về tầm quan trọng của người kể chuyện và điểm nhìn. Người kể chuyện là một hình tượng do tác giả hư cấu, đại diện cho phát ngôn của tác giả; là chủ thể của lời kể, nhân tố trung tâm chi phối đến việc tổ chức, kết cấu của văn bản tự sự; là người giữ vai trò trung gian giữa tác giả, tác phẩm và người đọc.