CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Lý thuyết chiếu vật 1. Khái niệm chiếu vật Chiếu vật được coi là hiện tượng ngữ dụng học đầu tiên, vì thế là vấn đề quan trọng được các nhà ngôn ngữ quan tâm nghiên cứu. Về mặt học thuật, chiếu vật được dịch từ tiếng Anh là reference, được nhà nghiên cứu Diệp Quang Ban gọi là "quy chiếu", Cao Xuân Hạo dịch là "sở chỉ" và tác giả Đỗ Hữu Châu dịch là "chiếu vật".
Học giả Georgia M. Green cho rằng: Chiếu vật là phương tiện tác động lên ngôn ngữ của người nói thông qua đó mà người nghe sẽ hiểu một cách đúng đắn thực thể nào, quan hệ nào, sự kiện nào anh ta định nói đến. 61] Theo Giáo sư Đỗ Hữu Châu: Quan hệ chiếu vật là sự tương ứng của các yếu tố ngôn ngữ (của các tín hiệu) trong diễn ngôn với sự vật, hiện tượng đang được nói tới trong một ngữ cảnh nhất định, nói cho đúng hơn là trong một thế giới khả hữu - hệ quy chiếu nhất định.61] Trong cuốn Giáo trình Ngữ dụng học, Đỗ Thị Kim Liên gọi “chiếu vật” là “sự quy chiếu". Sự quy chiếu là sự tương ứng giữa từ (hoặc các đơn vị ngôn ngữ) với các sự vật, con người, hoạt động, tính chất trong hiện thực được nói tới [22, tr.
Tức là con người sử dụng các đơn vị ngôn ngữ để chiếu đến con người, sự vật, hiện tượng, hoạt động trong hiện thực được đề cập đến. Khi bàn về thuật ngữ quy chiếu, Giáo sư Nguyễn Thiện Giáp khẳng định: Thuật ngữ quy chiếu (reference) được các nhà ngôn ngữ học dùng để chỉ mối quan hệ giữa các yếu tố ngôn ngữ với các sự vật, biến cố, hành động và tính chất mà chúng thay thế [16, tr. Với quan điểm này, quy chiếu được coi là dấu hiệu đầu tiên thể hiện quan hệ giữa hoàn cảnh giao tiếp với diễn ngôn. 8 Nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ (chủ biên) - Nguyễn Thị Ngân Hoa - Đỗ Việt Hùng - Bùi Minh Toán trong cuốn Nhập môn ngôn ngữ học thì cho rằng ở quá trình tạo lập diễn ngôn, người phát xuất phát từ các sự vật hiện tượng trong thế giới (nhận thức về chúng và hình thành nên nội dung giao tiếp với chúng) chọn lựa các yếu tố ngôn ngữ đủ để trong quá trình lĩnh hội, người nhận suy ra được sự vật, hiện tượng được nói đến trong diễn ngôn.
Vậy hành động chiếu vật là hành động dựa vào các yếu tố ngôn ngữ (các tín hiệu ngôn ngữ) trong diễn ngôn để suy ra sự vật, hiện tượng thuộc thế giới bên ngoài diễn ngôn được nói tới trong một hoàn cảnh giao tiếp nhất định.499] Trên cơ sở đó, nhóm tác giả đã khái quát quá trình tạo lập và tiếp nhận diễn ngôn theo sơ đồ sau: Sự vật, hiện Người phát Từ trong Người nhận tượng trong diễn ngôn thế giới Sơ đồ 1.1: Quá trình tạo lập và tiếp nhận diễn ngôn Như vậy, vai trò quan trọng của chiếu vật trong hoạt động giao tiếp là điều kiện để hiểu được phát ngôn, và để xác định giá trị đúng sai của phát ngôn cần dựa vào nhân tố quan trọng đó là chiếu vật. Để hiểu được nghĩa diễn ngôn, ta cũng cần quan tâm đến khái niệm nghĩa chiếu vật. Nghĩa chiếu vật là khái niệm được dùng để chỉ chính xác cái thực thể nào, đặc tính nào, quan hệ nào, sự kiện nào của thực thể khách quan được biểu thị thông qua việc chiếu vật của người sử dụng. Các phương thức chiếu vật Phương thức chiếu vật là phương thức tổ chức các biểu thức chiếu vật nhờ chúng mà người nói thực hiện sự chiếu vật và người nghe suy ra nghĩa chiếu vật.213] 9 Như vậy, để thực hiện hành vi chiếu vật cần phải có cách thức, cách thức đó trong ngôn ngữ học gọi là phương thức chiếu vật.
Khi bàn về các phương thức chiếu vật, đa số các công trình nghiên cứu ngữ dụng học đều cho rằng có ba phương thức chiếu vật chủ yếu đó là: dùng tên riêng, dùng biểu thức miêu tả và dùng chỉ xuất. Chiếu vật bằng tên riêng Tên riêng là tên đặt cho từng cá thể sự vật. Chức năng cơ bản của tên riêng là chỉ cá thể sự vật đúng với phạm trù cá thể được gọi bằng tên riêng đó. Chiếu vật bằng tên riêng là phương thức ít phụ thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp nhất.
Trong truyện của mình, Nguyễn Nhật Ánh đã sử dụng những tên riêng chỉ người như Quỳnh, Nga, Tưởng, Mận, Đàn… và tên riêng chỉ địa danh như Miễu, Hà Xuyên, Lồ Ô,. Để tránh gây nhầm lẫn cho người đọc khi chiếu vật, tác giả thường dùng kèm danh từ chung chỉ loại sự vật như xóm, làng, suối,… (1) Lúc này, cây cầu bắc qua suối Lồ Ô đã xây xong. Ngoài đồng thóc đã được gieo và mạ bắt đầu ngoi lên về phía mặt trời.303] (2) Làng Hà Xuyên cách đường quốc lộ khoảng ba cây số về miền biển. Dẫn vào làng là một ngõ trúc quanh co, sâu hút, đẹp như tranh vẽ.10] Ở ví dụ (1) (2) nhà văn đã sử dụng tên riêng Lồ Ô, Hà Xuyên đi kèm với danh từ chung là suối và làng.
Như vậy, tên riêng mà tác giả sử dụng dùng để chỉ cá thể sự vật, là cách làm cho người đọc dễ nhận biết nhất. Vậy là chiếu vật thành công. Thông thường, tên riêng chỉ người thì có chức năng cơ bản là chỉ cá thể người trong phạm trù người; còn tên riêng của từng sự vật, hiện tượng cũng chỉ có chức năng cơ bản chỉ cá thể của từng sự vật, hiện tượng đó trong phạm trù vật thể tự nhiên. Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng, tên riêng đã được dùng theo lối dịch chuyển phạm trù bằng phương thức chuyển nghĩa hoán dụ như dùng tên người để chỉ tên tác phẩm nghệ thuật, chẳng hạn như khi nói (viết) câu: Đọc Nguyễn Nhật Ánh, thì lúc này tên riêng Nguyễn Nhật Ánh tức là tên gọi của nhà văn, đã được dùng để chỉ tác phẩm do nhà văn sáng tác.
10 Chiếu vật bằng tên riêng được coi là phương thức chiếu vật lí tưởng nhất trong ba phương thức chiếu vật. Chiếu vật bằng biểu thức miêu tả a. Khái niệm Trong văn học, việc sử dụng chiếu vật bằng biểu thức miêu tả khá phổ biến và là phương thức để người sáng tác bộc lộ khả năng sử dụng ngôn ngữ của mình. Về khái niệm: Miêu tả chiếu vật là ghép các yếu tố phụ vào một tên chung, nhờ các yếu tố phụ mà tách được sự vật ra khỏi các sự vật khác cùng loại với chúng.67] Vậy chiếu vật bằng biểu thức miêu tả nghĩa là chúng ta dùng các cụm từ chính phụ như các phương tiện chiếu vật, ở đó thành tố phụ có tác dụng thu hẹp phạm vi chiếu vật của thành tố chính.
Sự vật, hiện tượng được đưa vào ngôn ngữ giao tiếp và văn bản ngoài tên riêng thì chủ yếu bằng các tên chung (danh từ chung). Trong đó, tên riêng (danh từ riêng) chỉ được dùng để gọi cá thể chứ không được dùng để gọi tên cho cả loại của cá thể thì tên chung (danh từ chung) lại vừa được dùng để gọi tên cả loại, vừa được dùng để gọi tên cá thể trong loại. Nhưng để thực hiện được điều đó thì cần căn cứ vào ngữ cảnh và ngôn cảnh, có khi chỉ một mình tên chung (danh từ chung) người nghe (người đọc) đã có thể biết cái tên chung đó là biểu thức chiếu vật cá thể hay là biểu thức chiếu vật loại. Chẳng hạn như: (3) Đuổi mèo đi! Trong phát ngôn này mèo là chiếu vật cá thể.
(4) Chó là động vật rất trung thành. Trong phát ngôn này là chó là chiếu vật loại. Trong hai ví dụ trên, xuất hiện trường hợp ở ví dụ (3) là từ mèo trong chức năng chiếu vật cá thể nằm trong phát ngôn do hành vi sai khiến tạo ra vì thế đã gây trở ngại cho sự thuyết giải phát ngôn. Để giúp người nghe (đọc) dễ dàng suy ra chiếu vật cá thể của một biểu thức chiếu vật không phải là tên 11 riêng nào đó, người nói (viết) thường dùng biện pháp miêu tả để tạo ra các BTMTCV, có nghĩa là ghép các yếu tố phụ vào một tên chung, nhờ các yếu tố phụ mà tách được sự vật - chiếu vật ra khỏi sự vật khác cùng loại với chúng.
Ví dụ (5): Con mèo nhà ông Liên là một biểu thức chiếu vật cá thể. Yếu tố phụ là nhà ông Liên đã tách con mèo đang được nói tới ra khỏi các con mèo nói chung. Phân loại Căn cứ theo tiêu chí phân chia biểu thức miêu tả theo tính chất, BTMTCV có thể chia 2 loại: + BTMTCV xác định: Là khi sự vật - nghĩa chiếu vật của nó đã được cả người nói, người nghe biết, nó có thể đã được nói đến trong tiền văn. Miêu tả xác định là kiểu cơ bản nhất trong biểu thức miêu tả.
Trong tiếng Việt, biểu thức miêu tả xác định nào cũng phải có một tên chung làm trung tâm cho cụm danh từ. Vai trò tên chung trong các cụm biểu thức miêu tả xác định là vai trò chỉ dẫn chiếu vật chỉ thế giới khả hữu tương thích với biểu thức đó. BTMTCV phải có một tên chung làm trung tâm cho cụm danh từ. Điều đó có nghĩa là biểu thức miêu tả xác định trong tiếng Việt chỉ gồm có miêu tả tố.
Và miêu tả tố nào cũng phải có một danh từ làm trung tâm, sau những danh từ làm trung tâm này là các yếu tố miêu tả khác nhau nhằm tách thêm một lần nữa sự vật – nghĩa chiếu vật ra khỏi các sự vật cùng loại với nó trong loại do danh từ trung tâm biểu thị. Đó cũng chính là điểm căn bản nhất của BTMTCV xác định. + BTMTCV không xác định: Là khi nghĩa chiếu vật của biểu thức chưa được người nói và người nghe biết thì biểu thức tương ứng là một biểu thức không xác định. Chính vì biểu thức không xác định cho nên thường chúng ta chỉ dùng khi đưa sự vật, hiện tượng lần đầu tiên vào diễn ngôn.
Còn ở các diễn ngôn kế tiếp, sự vật đó sẽ được biểu thị bằng các biểu thức xác định. Ví dụ: Ngày xửa ngày xưa,. 12 Trong tiếng Anh, biểu thức miêu tả xác định danh từ có mạo từ the, biểu thức miêu tả không xác định có a ở đằng trước. Còn tiếng Việt, cụm danh từ có một ở trước thường là BTMTCV không xác định, chẳng hạn như: một căn nhà nhỏ, một con suối.
Tên riêng không phải bao giờ cũng có ý nghĩa xác định.