Chương 1: MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HỌC – VĂN HÓA VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN NGỌC THUẦN 1. Theo khảo sát và thống kê sơ bộ của hai nhà văn hóa người Mỹ là A.L Krober và Kluchon, tính đến năm 1972, đã có gần 170 định nghĩa về văn hóa trên các sách và tạp chí phương Tây. Theo nhà nghiên cứu Phan Ngọc thì cho đến năm 1994, những định nghĩa về văn hóa trên thế giới đã chạm ngưỡng con số kỷ lục là 420 định nghĩa. Đó là một con số khổng lồ cho những cách hiểu về văn hóa hay cũng chính là minh chứng cho tính nguyên hợp đa nguyên của văn hóa.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Bá Thành cũng đã nhận định rằng: “Khoảng hơn chục năm nay, đúng ra là từ đầu năm 1990 lại nay, Văn hóa bỗng trở thành một khái niệm có tính thời sự, thậm chí là tính thời đại, tính thời thượng một cách đặc biệt… Chưa bao giờ như bây giờ, người ta lại phong tặng cho văn hóa nhiều những danh hiệu tốt đẹp và quang vinh như thế” [45, tr. Trước hết, khái niệm văn hóa đã trải qua một hành trình hình thành và phát triển về những ý niệm văn hóa. Nó được manh nha từ thời La Mã cổ đại khi nhà hùng biện Cicero Marcus Tullius đã đem những hiểu biết bản thân vào cuộc nhiếp chính với khái niệm triết học là sự gieo trồng tinh thần (bắt nguồn từ chữ latinh “colere”). Từ đây, người châu Âu dùng thuật ngữ culture với hai nghĩa cơ bản nhất là trồng trọt canh tác và văn hóa.
Sau đó, Francis Bacon (1561-1626), Thomas Hobbes (1586-1679), Pufedorf đều nhìn nhận văn hóa là cái đối lập với trạng thái tự nhiên vốn có. Đến thế kỉ khai sáng, Voltaire (1694-1772) và J.Herder (1774- 1883) đã xác lập nguyên lý cơ bản cho văn hóa và tổng quát tất cả tri thức nhân loại, họ mô tả văn hóa là kết tinh của sự tiến hóa cao cấp của con người, văn hóa không chỉ gắn liền với con người mà còn là kết quả của sự phát triển. Một trường phái triết học và mỹ học cổ điển Đức dành được nhiều thành tựu lớn khi E. Schiller đã cho rằng văn hóa là nơi thể hiện sức mạnh cá nhân con người, nơi mà con người bộc lộ cá tính riêng và sức mạnh riêng.
Xét về mặt lý luận của văn hóa phải nói đến F.Hegel (1770-1831) khi ông xác định rằng “mạch vị thế của văn hóa trong sáng tạo vật chất và tinh thần, mối quan hệ văn hóa và xã hội…”[18, 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các nhà văn hóa phương Tây đã có một bước tiến lớn trong nghiên cứu lịch sử nhân văn khi KLem sử dụng tiến trình phát triển văn hóa, xã hội làm cơ sở để khảo sát về lịch sử con người. Nhà nhân chủng học người Anh E.Tylor xứng đáng được giới khoa học Anh Mỹ suy tôn là người sáng lập ra môn Nhân học văn hóa khi đã cho xuất bản ở Luân Đôn cuốn Văn hóa nguyên thủy (1871), một cuốn sách đầu tiên nhìn văn hóa như một tổng thể thành tựu cơ bản của con người. Có rất nhiều những định nghĩa về văn hóa, chúng tôi xin trích một vài định nghĩa được coi là tiêu biểu nhất: Tại hội nghị Quổc tế UNESCO (1992) diễn ra ở Mexico, các nhà văn hóa đại diện cho hơn 100 quốc gia đã đưa ra 200 định nghĩa về văn hóa, sau đó họ cùng nhau trao đổi và thống nhất một khái niệm là: “Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội.
Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng. Văn hóa đem lại cho con người khả năng soi xét về bản thân…”[64, tr. Cuốn Từ điển triết học do Staeman chủ biên đã thiết lập một hệ thống các nhóm định nghĩa về văn hóa: 1. Định nghĩa mang tính chất miêu tả 2.
Định nghĩa mang tính chất lịch sử 3. Định nghĩa nhấn mạnh vào nếp sống xã hội 4. Định nghĩa nhấn mạnh vào phương thức ứng xử 5. Định nghĩa nhấn mạnh vào khía cạnh học tập, giáo dục 6.
Định nghĩa nhấn mạnh vào khả năng thích ứng của con người với thiên nhiên 7. Định nghĩa mang tính chất di truyền xã hội 8. Định nghĩa nhấn mạnh vào khía cạnh tư tưởng 9. Định nghĩa nhấn mạnh giá trị 10.Định nghĩa nhẩn mạnh vào cấu trúc văn hóa 11.
Định nghĩa mang tính chất điều khiển học, nhấn mạnh khía cạnh thông tin của văn hóa” [dẫn theo 44, tr. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ở trong nước, khái niệm văn hóa được đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu của các nhà văn hóa hàng đầu như: Trần Quốc Vượng, Trần Ngọc Thêm, Từ Chi, Phạm Đức Dương, Đào Duy Anh, Phan Kế Bính, Nguyễn Vãn Huyên, Đoàn Văn Chúc, Phan Ngọc,. Theo Từ điển tiếng Việt (1992) văn hóa có 5 ý nghĩa: 1/Tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử (ví dụ: kho tàng văn hóa Việt Nam). 2/ Những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần - nói một cách tổng quát (ví dụ: Phát triển văn hóa).
3/ Tri thức kiến thức khoa học (ví dụ: Trình độ văn hóa). 4/ Trình độ cao trong sinh hoạt văn hóa xã hội, biểu hiện của văn minh (ví dụ: sống có văn hóa). 5/ Nền văn hóa của một thời kỳ lịch sử cổ xưa được xác định trên cơ sở một tổng thể những di vật tìm thấy được có những đặc điểm giống nhau (ví dụ: văn hóa Đông Sơn) [35, tr. Học giả Đào Duy Anh cũng đã nhắc đến khái niệm văn hóa trong công trình nghiên cứu Việt Nam văn hóa sử cương.
Ông chỉ ra một hướng tiếp cận đối tượng văn hóa trên hai phương diện "tĩnh" (đồng đại) và “động” (lịch đại). Từ đó, cũng mở đường cho một nền khoa học thiên về nghiên cứu thực nghiệm "muốn nghiên cứu văn hóa của một dân tộc, trước hết phải xem xét dân tộc ấy sinh trưởng ở trong những điều kiện địa lý như thế nào" [2, tr. Dưới góc nhìn dân tộc học, Phùng Quý Nhâm đã nhấn mạnh đến tính dân tộc của văn hóa rằng: “Văn hóa là một hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử và mang đậm bản sắc dân tộc”[32, tr. Dưới góc nhìn dân gian, phải kể đến những nghiên cứu độc đáo của tác giả Chu Xuân Diên khi đã kết luận nội hàm của văn hóa gồm: “Văn hóa là một hoạt động sáng tạo chỉ riêng con người mới có.
Hoạt động bao trùm lên mọi lĩnh vực hoạt động đời sống của con người: đời sống vật chất, đời sống xã hội, đời sống tinh thần. Từ góc nhìn địa lý, Trần Quốc Vượng cho rằng: “Văn hóa theo nghĩa rộng, là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người, bao hàm cả kỹ thuật kinh tế. để từ đó hình thành một đời sống, một thế ứng xử, một thái độ tổng quát của con người với vũ trụ, thiên nhiên và xã hội, là cái vai trò của con người trong vũ trụ đó, với hệ thống các chuẩn mực, những giá trị, những quan niệm, tạo nên phong cách diễn tả tri thức và nghệ thuật của con người” [64, tr. Tuy văn hóa 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có nội hàm rộng và nhiều cách hiểu khác nhau nhưng nó là một thể thống nhất nên dễ dàng nhận thấy sự tương đồng trong các định nghĩa của những người nghiên cứu.
Như vậy, văn hóa là tổng hòa của tất cả các khía cạnh đời sống, tồn tại hữu thức và vô thức, mang dấu ấn của con người. Ngay cả những hiện tượng vụn vặt của cuộc sống cũng mang những tín hiệu về văn hóa. Có thể thấy, khái niệm văn hóa đã được giới nghiên cứu tiếp nhận theo nhiều góc nhìn, nhiều cách hiểu khác nhau. Trong mỗi một thời điểm lịch sử, khái niệm văn hóa lại có những nét khác biệt, bản thân chúng không thể bao quát đầy đủ nội hàm rộng lớn của văn hóa mà chỉ có thể tóm lược khía cạnh nào đó của văn hóa.
Đồng thời, sự đa dạng và phong phú của các khái niệm và quan điểm văn hóa cũng phản ánh những hướng tiếp cận khác nhau. Nghiên cứu một tác phẩm văn học dưới hệ soi chiếu của văn hóa cũng vậy, mỗi một nhà nghiên cứu sẽ lựa chọn cho mình một góc tiếp cận riêng biệt. Trong phạm vi của đề tài nghiên cứu, chúng tôi chỉ đi sâu khai thác những giá trị văn hóa tinh thần của con người và đặc biệt, nhấn mạnh văn hóa ứng xử, văn hóa gia đình và văn hóa tâm linh như một khuôn thước dạy dỗ thế hệ mầm non của đất nước. Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học.
Giữa cơ cấu đa dạng của văn hóa luôn có những sợi dây liên kết bất di bất dịch để hòa trộn những ảnh hưởng của thiên nhiên, khí hậu, dân cư, thần linh trong tâm thức con người thành một khối thống nhất cố định mà trí tính có thể nhận diện nó một cách hoàn hảo nhất. Đồng thời, văn học có thể xem như một bức tranh “dân sinh chí” mang trong mình sứ mệnh biểu đạt tinh tế nhất mọi khía cạnh nảy sinh trong đời sống con người. Như vậy, mối quan hệ giữa văn học và văn hóa là mối quan hệ gắn bó khăng khít, biện chứng, tương trợ lẫn nhau và mang tính đa chiều kích. Tuy nhiên, để có thể hiểu thấu đáo về điều đó cần xác định rõ ràng vai trò và vị trí của văn học trong văn hóa cũng như chức năng chứa đựng và bao bọc văn học của văn hóa.
Vì thế, chúng tôi tập trung làm rõ ba vấn đề cốt yếu nhất là : 1/ Văn học là sản phẩm và hiện thân của văn hóa; 2/ Văn học kết tinh các giá trị văn hóa; 3/ Văn học như một ứng xử văn hóa. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Văn học là sản phẩm và hiện thân của văn hóa. Những thành tựu của văn hóa học ngày nay cho phép chúng ta có thể nhìn nhận văn hóa giống như một tổng thể, một hệ thống bao gồm vô vàn những yếu tố như ngôn ngữ, phong tục tập quán, luật pháp, tôn giáo tín ngưỡng, nghệ thuật…, trong đó, bộ phận quan trọng nhất là văn học.