Tổng quan luận án

Công trình khoa học mang tên "Quá trình vận động cách mạng giải phóng dân tộc ở Thanh Hóa giai đoạn 1939 - 1945" của nghiên cứu sinh Võ Văn Thật, bảo vệ năm 2018 tại Trường Đại học Vinh, thuộc chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (mã số: 62.13), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Trần Văn Thức và Lê Ngọc Tạo.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong tiến trình lịch sử Việt Nam, Thanh Hóa là địa bàn có vị trí chiến lược xung yếu và sở hữu bề dày truyền thống văn hóa, yêu nước. Trong giai đoạn thực dân Pháp thống trị, phong trào đấu tranh của nhân dân Thanh Hóa đã góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của Cách mạng tháng Tám năm 1945, phản ánh những nét chung của phong trào toàn quốc cũng như những nét đặc thù mang tính địa phương.

Mặc dù đã có các công trình nghiên cứu đề cập đến lịch sử cách mạng Thanh Hóa, tác giả luận án chỉ ra rằng các công trình trước đây còn thiếu tính chuyên sâu và hệ thống. Nhiều vấn đề lịch sử trọng yếu chưa được phân tích và đánh giá thỏa đáng, bao gồm:

  • Quá trình chuẩn bị về tổ chức Đảng lãnh đạo và lực lượng cách mạng;
  • Hình thái, diễn biến khởi nghĩa giành chính quyền ở các khu vực địa bàn khác nhau trong tỉnh;
  • Mối liên hệ chỉ đạo giữa hai Xứ ủy (Xứ ủy Bắc Kỳ và Xứ ủy Trung Kỳ) đối với phong trào cách mạng Thanh Hóa;
  • Mối quan hệ liên vùng giữa phong trào Thanh Hóa với các địa phương lân cận và đóng góp thực tế của địa phương đối với phong trào giải phóng dân tộc trên phạm vi cả nước.

Do đó, việc nghiên cứu chuyên sâu giai đoạn 1939 - 1945 nhằm khôi phục bức tranh toàn diện, xác lập luận cứ khoa học về quy mô, tính chất, đặc điểm của phong trào, đồng thời rút ra các bài học kinh nghiệm phục vụ việc giáo dục truyền thống và định hướng phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu một cách chuyên sâu và có hệ thống nhằm phác họa bức tranh tổng thể về quá trình vận động cách mạng giải phóng dân tộc ở Thanh Hóa giai đoạn 1939 - 1945; làm rõ những nét tiêu biểu, đối sánh với các địa phương khác; chỉ ra ưu điểm, hạn chế; xác định vai trò và đóng góp của nhân dân Thanh Hóa đối với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu: Luận án xác định 4 nhiệm vụ cụ thể được đánh số như sau:
    1. Làm rõ bối cảnh lịch sử của quá trình vận động cách mạng giải phóng dân tộc ở Thanh Hóa;
    2. Làm rõ quá trình chuẩn bị cho cách mạng giải phóng dân tộc ở Thanh Hóa: chuẩn bị về đường lối, thống nhất về tổ chức Đảng, về lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, xây dựng căn cứ địa, tạo thế, tạo lực cho cách mạng;
    3. Phân tích thời cơ, chủ trương khởi nghĩa, diễn biến và hình thái khởi nghĩa giành chính quyền ở Thanh Hóa;
    4. Phân tích những ưu, nhược điểm trong quá trình vận động cách mạng giải phóng dân tộc ở Thanh Hóa giai đoạn 1939 - 1945, đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm từ quá trình vận động này.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Quá trình vận động của cách mạng giải phóng dân tộc ở Thanh Hóa từ năm 1939 đến năm 1945.
  • Phạm vi thời gian: Từ tháng 9/1939 (thời điểm mở đầu phong trào đấu tranh mới và gắn với Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 6 vào tháng 11/1939 chuyển hướng chỉ đạo chiến lược) đến ngày 2/9/1945 (Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đánh dấu thắng lợi hoàn toàn của cuộc vận động giải phóng dân tộc).
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn tỉnh Thanh Hóa trong những năm 1939 - 1945 (tương ứng với phạm vi không gian hành chính tỉnh Thanh Hóa hiện nay).
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và phong trào cách mạng trước năm 1939; quá trình chuẩn bị về tổ chức, lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, căn cứ địa cách mạng (Chiến khu Ngọc Trạo, Chiến khu Hòa - Ninh - Thanh, Chiến khu Quang Trung); các phong trào đấu tranh giai cấp của công nhân, nông dân; thời cơ, chủ trương, diễn biến và hình thái khởi nghĩa giành chính quyền tại các phủ, huyện, châu và thị xã.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã thực hiện việc hệ thống hóa và phân tích các nhóm công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài:

Nhóm công trình nghiên cứu Tác giả, công trình và năm công bố Giá trị kế thừa và khoảng trống nghiên cứu
Nghiên cứu về cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam (Học giả trong nước) - Trường Chinh (1975), Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam
- Văn Tạo, Thành Thế Vĩ, Nguyễn Công Bình (1960), Lịch sử Cách mạng tháng Tám
- Viện Sử học (1960), Cách mạng tháng Tám - Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội và các địa phương (2 tập)
- Viện Lịch sử Đảng (1985), Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945
- Văn Tạo chủ biên (1995), Cách mạng tháng Tám - Một số vấn đề lịch sử
- Trần Hữu Đính, Lê Trung Dũng (2000), Cách mạng tháng Tám năm 1945 - Những sự kiện lịch sử
- Nguyễn Đình Cả (2010), Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 ở đồng bằng Bắc Bộ
- Trần Văn Thức (2003), Luận án TS về phong trào giải phóng dân tộc ở Nghệ An 1939-1945
- Đỗ Mạnh Hùng (2016), Luận án TS về Cách mạng tháng Tám ở các tỉnh Bắc Trung Bộ
- Cung cấp cơ sở lý luận, khung sự kiện và tư liệu nền tảng về cuộc vận động giải phóng dân tộc quy mô toàn quốc và liên vùng.
- Khoảng trống: Chưa nghiên cứu chuyên sâu, độc lập và có hệ thống về tiến trình vận động cụ thể trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
Nghiên cứu của học giả nước ngoài - Paul Mus (1952), Viet Nam Sociologie d’une guerre
- Stein Tønnesson (1991), The Vietnamese Revolution of 1945: Roosevelt, Ho Chi Minh and De Gaulle in a World at war
- Philippe Devillers (2003), Paris - Sài Gòn - Hà Nội: Tài liệu lưu trữ về cuộc chiến tranh 1944 - 1947
- Luận giải nguyên nhân, tính chất chính nghĩa, tính nhân dân và tác động quốc tế của Cách mạng tháng Tám 1945 từ các nguồn lưu trữ quốc tế.
- Khoảng trống: Không đi sâu vào phong trào cách mạng cụ thể ở cấp tỉnh như Thanh Hóa.
Nghiên cứu về bối cảnh và điều kiện lịch sử Thanh Hóa - Charles Robequain, Le Thanhhoa
- Ban Nghiên cứu và Biên soạn lịch sử Thanh Hóa (1998), Niên biểu lịch sử Thanh Hóa (từ thời nguyên thủy đến năm 1975)
- Phạm Văn Đấu (2004), Phác thảo lịch sử kinh tế Thanh Hóa (từ thời nguyên thủy đến năm 1945)
- Ban Nghiên cứu và Biên soạn Lịch sử Thanh Hóa (1996), Lịch sử Thanh Hóa, tập V (1930 - 1945)
- Cung cấp dữ liệu địa lý học, dân cư, số liệu kinh tế ruộng đất, đồn điền, giao thông và biên niên sự kiện lịch sử giai đoạn 1930 - 1945.
- Khoảng trống: Trình bày theo dạng thông sử, miêu tả theo trình tự thời gian, chưa làm rõ mối quan hệ cấu trúc giữa các yếu tố vận động cách mạng 1939 - 1945.
Nghiên cứu về tổ chức Đảng, lực lượng và căn cứ địa tại Thanh Hóa - BCH Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa (1978, 1986, 2010), các công trình Lịch sử Đảng bộ tỉnh từ 1925/1930 đến 1945/1954/1980
- Lịch sử Đảng bộ các huyện: Đông Sơn (2000), Hà Trung (2010), Hậu Lộc (2000), Hoằng Hóa (1995), Nông Cống (1982), Thiệu Hóa (2000), Thọ Xuân (1988), Tĩnh Gia (1991), Bá Thước (1998), Lang Chánh (1991), Ngọc Lặc (1996), Quan Hóa (1982)
- Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Thanh Hóa (1971, 1977, 1982), các công trình về Chiến khu Ngọc Trạo và bài viết của Hoàng Minh Côn, Phan Văn Kính, Đặng Châu Tuệ, Đặng Văn Hỷ, Trịnh Ngọc Diệt, Hoàng Tiến Trình
- Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Thanh Hóa (2016), Chiến khu Ngọc Trạo, bước phát triển mới của phong trào cách mạng tỉnh Thanh Hóa
- Bùi Ngọc Thạch (2008), Luận án TS về Chiến khu Quang Trung...
- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Thanh Hóa (1999), Lịch sử Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Thanh Hóa 1930 - 1999
- Tái hiện sự ra đời của các chi bộ Đảng, quá trình xây dựng Đội du kích Ngọc Trạo (19/9/1941) và các căn cứ địa cách mạng, phong trào quần chúng của Mặt trận.
- Khoảng trống: Tiếp cận dưới giác độ lịch sử Đảng bộ địa phương riêng lẻ, chưa khái quát mối liên kết mạng lưới phong trào toàn tỉnh và vai trò chỉ đạo của các Xứ ủy.
Nghiên cứu về đấu tranh giành và giữ chính quyền ở Thanh Hóa - Ban Tuyên huấn Tỉnh ủy Thanh Hóa (1985, 1986), Khởi nghĩa tháng Tám ở Thanh Hóa, Sự kiện Đa Ngọc 1941
- Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Thanh Hóa (1966, 1977), Sơ giản lịch sử Cách mạng tháng Tám ở tỉnh Thanh Hóa (1939 - 1945), Khởi nghĩa tháng 7/1945 ở Hoằng Hóa
- Công trình lịch sử huyện Hậu Lộc (1977), Thạch Thành (1991), Quảng Xương (1992), Như Xuân (1989), Cẩm Thủy (1993), Lang Chánh (1991), TP. Thanh Hóa (Đinh Xuân Lâm, Lê Đức Nghi, 1990)
- Phản ánh diễn biến khởi nghĩa tại các phủ, huyện, thị xã.
- Khoảng trống: Một số tài liệu phục vụ tuyên truyền nên chỉ liệt kê sự kiện theo thời gian, phần khởi nghĩa ở các huyện miền núi chưa được phân tích hình thái sâu sắc.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Luận án khắc phục hạn chế của các nghiên cứu thông sử và lịch sử Đảng địa phương trước đây bằng việc tiếp cận có hệ thống; khai thác bổ sung tư liệu từ chính quyền thực dân Pháp; làm rõ vai trò chỉ đạo đồng thời của cả Xứ ủy Bắc Kỳ và Xứ ủy Trung Kỳ đối với Thanh Hóa; phân tích các mô hình chiến khu liên tỉnh (Ngọc Trạo, Hòa - Ninh - Thanh, Quang Trung); và phân tích sâu sắc các hình thái giành chính quyền đa dạng giữa khu vực đồng bằng, đô thị và miền núi.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và phương pháp luận

  • Phương pháp luận: Dựa trên lập trường của Sử học mác-xít, hệ quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và các văn kiện, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về cách mạng giải phóng dân tộc.
  • Phương pháp tiếp cận: Luận án áp dụng Phương pháp tiếp cận hệ thống (còn gọi là Tiếp cận phân tích hệ thống - cấu trúc). Phương pháp này cho phép khảo sát toàn bộ quá trình vận động cách mạng giải phóng dân tộc ở Thanh Hóa như một chỉnh thể thống nhất, phân tích mối quan hệ hữu cơ giữa các yếu tố: điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội, tổ chức lãnh đạo của Đảng, khối liên minh chính trị quần chúng, lực lượng vũ trang, căn cứ địa cách mạng và thời cơ lịch sử.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể

  1. Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc: Tái hiện các sự kiện lịch sử theo đúng tiến trình thời gian thực tế, đồng thời rút ra bản chất, quy luật vận động nội tại và các đặc trưng của phong trào.
  2. Phương pháp phân tích, tổng hợp và miêu tả: Phân tích các văn kiện, sự kiện lịch sử, tổng hợp diện mạo phong trào ở các vùng địa lý khác nhau.
  3. Phương pháp thống kê và so sánh lịch sử:
    • Thống kê định lượng các số liệu về tổ chức quần chúng, các cuộc đấu tranh của công nhân, nông dân, ruộng đất và các đơn vị hành chính;
    • So sánh, đối chiếu phong trào cách mạng giữa các địa phương trong tỉnh (vùng đồng bằng - trung du - ven biển với vùng miền núi), cũng như đối sánh phong trào ở Thanh Hóa với các tỉnh lân cận và phong trào chung của cả nước.
  4. Phương pháp điền dã lịch sử: Khảo sát thực địa tại các di tích lịch sử cách mạng trong tỉnh (như Chiến khu Ngọc Trạo, địa bàn Vĩ Liệt, Hoằng Hóa...) để xác minh quy mô, địa bàn và mức độ ảnh hưởng của các sự kiện.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

  • Tài liệu gốc của Đảng và tổ chức cách mạng: Văn kiện Đảng Cộng sản Việt Nam; các chỉ thị, nghị quyết của Tỉnh ủy Thanh Hóa; chỉ thị của Tỉnh bộ Việt Minh Thanh Hóa; nghị quyết của các Đảng bộ phủ, huyện, khai thác tại các Trung tâm Lưu trữ Quốc gia và cơ quan lưu trữ tỉnh Thanh Hóa; hồi ký của các cán bộ lão thành cách mạng trực tiếp tham gia phong trào.
  • Tài liệu từ phía thực dân Pháp và chính quyền phong kiến: Các báo cáo chính trị, quân sự của Tòa Sứ Thanh Hóa, báo cáo của Khâm sứ Trung Kỳ, các báo cáo theo dõi của Sở Mật thám Pháp về phong tràu chống đối ở Thanh Hóa (nguồn tiếng Pháp).
  • Tài liệu nghiên cứu và tác phẩm lý luận: Các tác phẩm của Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp; các công trình chuyên khảo lịch sử địa phương và các ấn phẩm lịch sử đã xuất bản bằng tiếng Việt và tiếng Pháp.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương này dành cho việc phân tích toàn diện lịch sử nghiên cứu vấn đề giải phóng dân tộc tại Việt Nam và Thanh Hóa:

  • Khảo cứu các công trình nghiên cứu chung về Cách mạng tháng Tám của các tác giả trong nước (Trường Chinh, Văn Tạo, Viện Sử học, Viện Lịch sử Đảng, Trần Hữu Đính, Đỗ Mạnh Hùng...) và các học giả quốc tế (Paul Mus, Stein Tønnesson, Philippe Devillers).
  • Khảo sát các công trình nghiên cứu chuyên biệt về Thanh Hóa theo ba mảng nội dung: điều kiện hoàn cảnh lịch sử; quá trình chuẩn bị về tổ chức, lực lượng và căn cứ địa cách mạng; quá trình đấu tranh giành và giữ chính quyền tại các địa phương.
  • Xác định rõ những vấn đề khoa học mà luận án tập trung giải quyết: phương pháp tiếp cận hệ thống, khai thác tư liệu hai phía (cách mạng và thực dân), làm rõ sự chỉ đạo của hai Xứ ủy, phân tích các căn cứ địa và hình thái giành chính quyền đa dạng.

Chương 2: Quá trình chuẩn bị về đường lối, lực lượng và xây dựng căn cứ địa cách mạng (tháng 9/1939 - tháng 3/1945)

Chương 2 phân tích bối cảnh và toàn bộ công tác chuẩn bị của Đảng bộ và nhân dân Thanh Hóa:

  • Khái quát vị trí, điều kiện tự nhiên và truyền thống:
    • Tọa độ địa lý: $19^\circ 18'$ đến $20^\circ 40'$ vĩ độ Bắc, $104^\circ 22'$ đến $106^\circ 05'$ kinh độ Đông.
    • Tiếp giáp: Phía Bắc giáp Sơn La, Hòa Bình, Ninh Bình (đường ranh giới 175 km); phía Nam giáp Nghệ An (>160 km); phía Đông giáp Biển Đông (>102 km bờ biển); phía Tây giáp tỉnh Hủa Phăn - Lào (192 km biên giới).
    • Vị thế lịch sử: Căn cứ của các cuộc kháng chiến và khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, Chu Đạt (năm 156), Triệu Thị Trinh (năm 248), Dương Đình Nghệ (năm 931 tại Tư Phố), Ngô Quyền (năm 938 từ Ái Châu), Lê Hoàn, nhà Trần kháng chiến chống Nguyên Mông (chặn đánh Toa Đô năm 1285), khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi (1418 - 1427) và căn cứ tập kết quân của vua Quang Trung.
  • Tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội trước năm 1939:
    • Chính trị: Thiết lập bộ máy cai trị lưỡng hệ: Tòa Công sứ Pháp (đứng đầu là Công sứ Résident, Phó sứ Résident adjoint, hai sở đại lý ở Hồi Xuân và Bái Thượng) kết hợp chính quyền Nam triều do Tổng đốc đứng đầu (phải mang hàm Thượng thư và là hoàng thân triều Nguyễn).
    • Hành chính: Luận án làm rõ trước năm 1945, toàn tỉnh gồm 7 phủ (Đông Sơn, Thiệu Hóa, Thọ Xuân, Tĩnh Gia, Hoằng Hóa, Hà Trung, Nông Cống), 7 huyện (Vĩnh Lộc, Quảng Xương, Hậu Lộc, Nga Sơn, Yên Định, Thạch Thành, Cẩm Thủy), 6 châu miền núi (Quan Hóa, Lang Chánh, Ngọc Lặc, Thường Xuân, Như Xuân, Tân Hóa - tức Bá Thước) và 1 thị xã Thanh Hóa (gồm 134 tổng, 2.000 làng).
    • Kinh tế: Thực dân Pháp và địa chủ chiếm đoạt ruộng đất quy mô lớn. Pháp chiếm 24.815 ha tại Thanh Hóa (trên tổng số 168.000 ha ruộng đất bị chiếm đoạt ở Trung Kỳ); tính đến năm 1931, diện tích Pháp khai thác gồm 6.089 ha tư nhân và 5.029 ha của các hội buôn lúa gạo/rượu. Hệ thống nông giang sông Chu, đập Bái Thượng và kênh đào dài hơn 2.600 km phục vụ bóc lột kinh tế. Khai thác mỏ đồng Lương Sơn, crôm Cổ Định.
    • Văn hóa - xã hội: Thực hiện chính sách ngu dân, toàn tỉnh chỉ có 1 trường trung học, 7.000 học sinh, tỷ lệ mù chữ lên đến 95%; y tế chỉ có 1 nhà thương và 6 bệnh xá; chính sách độc quyền rượu và thuốc phiện (các đại lý mang chữ R.O) làm thất thoát khoảng 7 vạn tấn gạo và mang về 2 triệu đồng lợi nhuận cho tư bản Pháp mỗi năm. Thuế khóa tăng từ 650.000 Frăng (1917) lên 880.000 Frăng (1926). Giai cấp công nhân chỉ khoảng 4.000 người, làm việc 12 - 14 giờ/ngày.
  • Phong trào yêu nước và cách mạng đến năm 1939:
    • Phong trào Cần Vương với các căn cứ Ba Đình, Hùng Lĩnh; phong trào chống thuế Trung Kỳ, Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục.
    • Lê Hữu Lập sáng lập "Hội đọc sách báo cách mạng" (5/1926 tại số 26 phố Hàng Than, thị xã Thanh Hóa); thành lập Tỉnh bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (4/1927).
    • Hoạt động của Tân Việt Cách mạng Đảng tại Hoằng Hóa, Hậu Lộc.
    • Thành lập Đảng bộ Thanh Hóa: Ngày 29/7/1930, đồng chí Nguyễn Doãn Chấp triệu tập hội nghị thành lập Đảng bộ tỉnh tại làng Yên Trường (Thọ Lập, Thọ Xuân) dưới sự chỉ đạo của Xứ ủy Bắc Kỳ, cử Lê Thế Long làm Bí thư; Tháng 1/1931, đồng chí Lê Tất Đắc được Xứ ủy Trung Kỳ cử về triệu tập hội nghị tại làng Hồ Thượng (Tĩnh Gia), cử Ban Chấp hành lâm thời gồm 5 ủy viên, do Ngô Đức Mậu làm Bí thư.
  • Chuẩn bị đường lối, lực lượng và căn cứ địa (1939 - 1945):
    • Tổ chức Hội nghị Tỉnh ủy tại Vĩ Liệt (Hà Trung) ngày 24/6/1944 ban hành Nghị quyết "Gấp rút chuẩn bị khởi nghĩa".
    • Thành lập Đội du kích tập trung đầu tiên tại Hang Treo thuộc Chiến khu Ngọc Trạo vào ngày 19/9/1941.
    • Xây dựng hệ thống an toàn khu, căn cứ địa vững chắc: Chiến khu Ngọc Trạo, Chiến khu Hòa - Ninh - Thanh (Hòa Bình - Ninh Bình - Thanh Hóa), tiến tới hình thành Chiến khu Quang Trung; xuất bản báo Đuổi giặc nước tại Hậu Lộc.

Chương 3: Quá trình đấu tranh giành và giữ chính quyền (tháng 3/1945 - tháng 9/1945)

  • Giai đoạn khởi nghĩa từng phần sau ngày 9/3/1945:
    • Triển khai Chỉ thị "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" thông qua Hội nghị Tỉnh ủy Vĩ Liệt lần thứ 2 (tháng 4/1945), phát động cao trào kháng Nhật cứu nước.
    • Thắng lợi tiêu biểu của cuộc khởi nghĩa giành chính quyền và tổ chức đánh trả quân địch bảo vệ thành quả cách mạng tại huyện Hoằng Hóa vào tháng 7/1945 (huyện giành chính quyền đầu tiên trong tỉnh).
  • Khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn tỉnh tháng 8/1945:
    • Nắm bắt thời cơ Nhật đầu hàng Đồng minh, Tỉnh ủy và Ủy ban Khởi nghĩa phát lệnh tổng khởi nghĩa.
    • Khởi nghĩa giành chính quyền liên tiếp thắng lợi tại các phủ, huyện đồng bằng, trung du, ven biển và thị xã Thanh Hóa bằng hình thức kết hợp đấu tranh chính trị với lực lượng tự vệ vũ trang thị uy, bao vây huyện đường, buộc quan lại Nam triều nộp ấn tín.
    • Quá trình giành chính quyền ở các châu, huyện miền núi (Quan Hóa, Bá Thước, Lang Chánh, Ngọc Lặc, Như Xuân, Thường Xuân): Do đặc thù chế độ thổ ty, lang đạo quản lý, Tỉnh ủy và Mặt trận Việt Minh thực hiện phương thức tuyên truyền, vận động chính trị và thuyết phục các lang đạo, thủ lĩnh địa phương chuyển giao quyền lực về tay nhân dân mà không dùng bạo lực vũ trang xung đột.
    • Sự ra đời và củng cố bộ máy chính quyền cách mạng tỉnh Thanh Hóa trước ngày 2/9/1945.

Chương 4: Nhận xét về quá trình vận động cách mạng giải phóng dân tộc ở Thanh Hóa và một số bài học kinh nghiệm

  • Nhận xét, đánh giá tổng thể:
    • Ưu điểm: Thể hiện tính chủ động, linh hoạt của Tỉnh ủy và Việt Minh; xây dựng lực lượng vũ trang sớm (Chiến khu Ngọc Trạo 1941); kết hợp nhuần nhuyễn giữa phong trào đồng bằng và miền núi; chớp đúng thời cơ khởi nghĩa từng phần và tổng khởi nghĩa.
    • Hạn chế: Một số thời điểm cơ sở Đảng bị khủng bố vỡ mạch liên lạc do thiếu kinh nghiệm hoạt động bí mật; công tác chuẩn bị lực lượng ở một vài địa bàn miền núi còn chậm hơn so với vùng đồng bằng.
    • Đặc điểm: Phong trào chịu sự tác động chỉ đạo đan xen của cả Xứ ủy Bắc Kỳ và Xứ ủy Trung Kỳ; là cầu nối chiến lược giữa căn cứ địa miền Bắc với Trung Bộ.
    • Đóng góp: Cung cấp hậu phương sức người, sức của; xây dựng căn cứ liên vùng (Chiến khu Hòa - Ninh - Thanh, Chiến khu Quang Trung); bảo vệ an toàn cho cán bộ Trung ương; đóng góp mô hình khởi nghĩa từng phần tiêu biểu (Hoằng Hóa).
  • Năm bài học kinh nghiệm lịch sử:
    1. Bài học về xây dựng tổ chức Đảng: Xây dựng Đảng bộ vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, kiên trì bám dân để gây dựng và phục hồi tổ chức sau các đợt khủng bố.
    2. Bài học về phát huy tính chủ động, sáng tạo, nắm chắc thời cơ: Nắm bắt nhanh nhạy các chuyển biến chiến lược của Trung ương để vận dụng sát hợp với thực tiễn địa phương.
    3. Bài học về chú ý tính đặc thù vùng miền: Đề ra chính sách dân tộc, phương thức vận động phù hợp giữa vùng đồng bằng và vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi.
    4. Bài học về tập hợp lực lượng, xây dựng khối đoàn kết thống nhất: Mở rộng tổ chức Mặt trận Việt Minh, đoàn kết các tầng lớp nhân dân, phát huy liên minh công - nông - trí thức và các nhân sĩ tiến bộ.
    5. Bài học về tranh thủ lợi thế vị trí địa lý: Khai thác địa hình tự nhiên hiểm trở để lập căn cứ địa và phát triển kinh tế - hậu cần phục vụ sự nghiệp cách mạng.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt khoa học và tư liệu

  1. Bổ sung nguồn tư liệu gốc toàn diện: Luận án khai thác, đối chiếu hệ thống tài liệu lưu trữ của Đảng và Tỉnh ủy Thanh Hóa với nguồn tư liệu lưu trữ của thực dân Pháp (Tòa Sứ Thanh Hóa, Sở Mật thám Pháp), mang lại cái nhìn khách quan, đa chiều về cuộc đấu tranh.
  2. Làm rõ tính đặc thù trong cơ chế chỉ đạo của Đảng: Luận án chứng minh một hiện tượng đặc thù trong lịch sử Đảng bộ địa phương: Do vị trí địa lý giáp ranh, phong trào cách mạng Thanh Hóa trong giai đoạn 1930 - 1945 đồng thời tiếp nhận sự lãnh đạo, chỉ đạo của cả Xứ ủy Bắc Kỳ và Xứ ủy Trung Kỳ (thể hiện qua việc thành lập Đảng bộ tháng 7/1930 theo chỉ đạo của Bắc Kỳ và Ban Chấp hành lâm thời tháng 1/1931 theo chỉ đạo của Trung Kỳ).
  3. Làm rõ vai trò xây dựng căn cứ địa và mạng lưới liên tỉnh: Luận án phân tích sâu sắc quá trình chuyển biến căn cứ từ Chiến khu Ngọc Trạo (1941) đến việc hình thành căn cứ liên tỉnh Hòa - Ninh - Thanh và Chiến khu Quang Trung, xác lập vị thế của Thanh Hóa như một hậu phương chiến lược kết nối hai miền.
  4. Phân loại và luận giải hình thái giành chính quyền: Làm sáng rõ sự khác biệt mang tính quy luật giữa phương thức bạo lực quần chúng kết hợp tự vệ vũ trang ở vùng đồng bằng, thị xã với phương thức vận động, thuyết phục chuyển giao chính quyền ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi.

Kiến nghị và giá trị ứng dụng thực tiễn

  • Đề xuất vận dụng các bài học kinh nghiệm về khối đại đoàn kết toàn dân và chính sách vùng miền vào việc hoạch định các chiến lược phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội tại các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa hiện nay.
  • Khai thác kết quả nghiên cứu phục vụ công tác giáo dục truyền thống cách mạng, biên soạn giáo trình giảng dạy lịch sử địa phương tại các trường đại học, cao đẳng và trường chính trị trên địa bàn tỉnh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung giới hạn không gian hành chính trong phạm vi tỉnh Thanh Hóa và khung thời gian 1939 - 1945. Nguồn tư liệu lưu trữ sơ cấp về phong trào đấu tranh của đồng bào các dân tộc thiểu số tại một số châu miền núi xa xôi trong thời kỳ tiền khởi nghĩa chưa thực sự đồng đều do điều kiện ghi chép lịch sử thời kỳ đó còn hạn chế.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh chuyên sâu về sự tương đồng và khác biệt trong phương thức vận động quần chúng giữa tỉnh Thanh Hóa với các tỉnh lân cận thuộc khu vực Bắc Trung Bộ (như Nghệ An, Hà Tĩnh) và Nam đồng bằng Bắc Bộ (Ninh Bình, Nam Định) trong tiến trình Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên môn giá trị đối với nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Lịch sử: Cung cấp phương pháp tiếp cận hệ thống trong nghiên cứu lịch sử địa phương và nguồn tư liệu thư mục phong phú về phong trào giải phóng dân tộc thời kỳ 1939 - 1945.
  • Giảng viên Lịch sử Việt Nam và Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam: Cung cấp nguồn tư liệu và số liệu lịch sử cụ thể phục vụ bài giảng về giai đoạn chuẩn bị lực lượng, xây dựng chiến khu và nghệ thuật chớp thời cơ trong Cách mạng tháng Tám 1945.
  • Ban Tuyên giáo và cán bộ biên soạn lịch sử địa phương: Cung cấp phương pháp thẩm định sự kiện, xử lý các nguồn tư liệu địa phương và phương pháp phân kỳ lịch sử khoa học.
  • Các nhà quản lý và hoạch định chính sách: Tham khảo các bài học lịch sử về công tác vận động quần chúng, chính sách đặc thù cho vùng đồng bào miền núi và việc phát huy lợi thế địa lý trong phát triển kinh tế - xã hội.

Câu hỏi thường gặp

1. Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Thanh Hóa được thành lập chính thức vào thời gian nào và do ai làm Bí thư đầu tiên?

Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa được thành lập vào ngày 29/7/1930 tại nhà đồng chí Lê Văn Sĩ, làng Yên Trường (nay thuộc xã Thọ Lập, huyện Thọ Xuân) do đồng chí Nguyễn Doãn Chấp triệu tập các đại biểu chi bộ Hàm Hạ, Thiệu Hóa, Thọ Xuân theo sự chỉ đạo của Xứ ủy Bắc Kỳ. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đầu tiên gồm 3 đồng chí, do đồng chí Lê Thế Long làm Bí thư.

2. Vì sao phong trào cách mạng Thanh Hóa lại chịu sự chỉ đạo đan xen của cả Xứ ủy Bắc Kỳ và Xứ ủy Trung Kỳ?

Do Thanh Hóa nằm ở vị trí địa lý giáp ranh giữa Bắc Kỳ và Trung Kỳ, nên trong giai đoạn đầu thành lập tổ chức Đảng, cả hai Xứ ủy đều cử cán bộ về chỉ đạo xây dựng cơ sở. Ngày 29/7/1930, đồng chí Nguyễn Doãn Chấp (phái viên Xứ ủy Bắc Kỳ) tổ chức thành lập Đảng bộ tỉnh. Đến tháng 1/1931, đồng chí Lê Tất Đắc (phái viên Xứ ủy Trung Kỳ) tiếp tục về triệu tập hội nghị tại làng Hồ Thượng (Tĩnh Gia) thành lập Ban Chấp hành tỉnh Đảng bộ lâm thời do đồng chí Ngô Đức Mậu làm Bí thư.

3. Đơn vị hành chính của tỉnh Thanh Hóa trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 gồm những đơn vị nào?

Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, đơn vị hành chính tỉnh Thanh Hóa gồm 7 phủ, 7 huyện, 6 châu miền núi và 1 thị xã:

  • 7 phủ: Đông Sơn, Thiệu Hóa, Thọ Xuân, Tĩnh Gia, Hoằng Hóa, Hà Trung, Nông Cống;
  • 7 huyện: Vĩnh Lộc, Quảng Xương, Hậu Lộc, Nga Sơn, Yên Định, Thạch Thành, Cẩm Thủy;
  • 6 châu miền núi: Quan Hóa, Lang Chánh, Ngọc Lặc, Thường Xuân, Như Xuân, Tân Hóa (nay là Bá Thước);
  • 1 thị xã: Thị xã Thanh Hóa.

4. Đội du kích tập trung đầu tiên của tỉnh Thanh Hóa ra đời vào thời gian nào, ở đâu?

Đội du kích tập trung đầu tiên của Đảng bộ và nhân dân Thanh Hóa được thành lập vào ngày 19/9/1941 tại Hang Treo, nằm trong căn cứ Chiến khu Ngọc Trạo (huyện Thạch Thành).

5. Quá trình giành chính quyền tại các châu, huyện miền núi Thanh Hóa trong tháng 8/1945 có đặc điểm gì nổi bật?

Tại các huyện và châu miền núi (Quan Hóa, Bá Thước, Lang Chánh, Ngọc Lặc, Như Xuân, Thường Xuân), bộ máy chính quyền phong kiến chủ yếu nằm trong tay các thổ ty, lang đạo. Nhận diện rõ thực tế này, Tỉnh ủy và Mặt trận Việt Minh Thanh Hóa đã không chủ trương dùng bạo lực quân sự mà sử dụng phương thức tuyên truyền, giáo dục chính trị, vận động và thuyết phục các lang đạo tự nguyện chuyển giao quyền quản lý về tay chính quyền cách mạng của nhân dân.


Kết luận

Luận án Tiến sĩ Lịch sử của tác giả Võ Văn Thật là công trình nghiên cứu chuyên sâu, hệ thống và toàn diện về quá trình vận động cách mạng giải phóng dân tộc ở Thanh Hóa giai đoạn 1939 - 1945. Bằng phương pháp tiếp cận hệ thống kết hợp khai thác đa dạng các nguồn tư liệu gốc của Đảng và tài liệu lưu trữ của thực dân Pháp, tác giả đã tái hiện chân thực bức tranh lịch sử từ quá trình chuẩn bị đường lối, xây dựng tổ chức, lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, căn cứ địa (Ngọc Trạo, Quang Trung) đến các hình thái khởi nghĩa giành chính quyền phong phú giữa đồng bằng và miền núi. Công trình khẳng định vị thế chiến lược, đóng góp to lớn của Đảng bộ và nhân dân Thanh Hóa vào thắng lợi chung của Cách mạng tháng Tám năm 1945, đồng thời đúc kết 5 bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị khoa học và thực tiễn sâu sắc.