Tổng quan luận án

Công trình khoa học "Quan hệ Hủa Phăn (Lào) - Sơn La (Việt Nam) từ năm 1975 đến năm 2012" của tác giả Đặng Thị Hồng Liên là luận án Tiến sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử thế giới (mã số 62.11), được hoàn thành tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội dưới sự hướng dẫn của TS. Văn Ngọc Thành và TS. Nguyễn Thị Huyền Sâm vào năm 2018.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Lào và Việt Nam là hai quốc gia láng giềng trên bán đảo Đông Dương với đường biên giới chung dài trên 2.000 km. Đường biên giới này tạo nên sự gắn kết trực tiếp giữa các địa phương giáp ranh, tiêu biểu là cặp quan hệ giữa tỉnh Hủa Phăn (nằm ở vùng Đông Bắc Lào) và tỉnh Sơn La (nằm ở vùng Tây Bắc Việt Nam). Hai tỉnh sở hữu 210 km đường biên giới chung, chiếm 1/10 tổng chiều dài biên giới quốc gia hai nước, giữ vị trí địa - chính trị xung yếu đối với quốc phòng và an ninh của mỗi bên.

Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 2012 chứng kiến những biến chuyển mang tính bước ngoặt: sự kết thúc của cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc, hai nước bước vào thời kỳ xây dựng chế độ mới; tác động từ sự suy thoái của cục diện Chiến tranh Lạnh; xu thế khu vực hóa khi Việt Nam và Lào lần lượt gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN); đặc biệt là công cuộc đổi mới, mở cửa và hội nhập quốc tế của cả hai quốc gia từ năm 1986. Những chuyển biến này đã đặt ra yêu cầu phải xem xét sự vận động của quan hệ giữa hai nước trên cả cấp độ quốc gia lẫn cấp độ địa phương, xác định cơ chế tương tác đa chiều giữa địa phương - quốc gia và quốc gia - địa phương.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra là: Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào ở quy mô vĩ mô cấp nhà nước hoặc nghiên cứu một số cặp tỉnh khác, song mối quan hệ giữa hai tỉnh giáp biên Hủa Phăn và Sơn La chưa từng được nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống và xuyên suốt từ năm 1975 đến năm 2012. Việc thực hiện đề tài nhằm khỏa lấp khoảng trống này, phục dựng bức tranh tổng thể về mối quan hệ giữa hai địa phương trên các phương diện chính trị, an ninh - quốc phòng, kinh tế, văn hóa, giáo dục và y tế.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là thông qua việc hệ thống hóa, phân tích, đánh giá một cách toàn diện quá trình phát triển, thành tựu cũng như hạn chế của quan hệ giữa hai tỉnh Hủa Phăn và Sơn La từ năm 1975 đến năm 2012, làm rõ điểm chung, điểm riêng của mối quan hệ này trong bức tranh quan hệ giữa các địa phương của hai quốc gia. Qua đó, công trình làm sáng tỏ sự vận động của quan hệ Hủa Phăn - Sơn La trong mối tương tác với quan hệ hai nước, đồng thời xác định vị trí, vai trò của mối quan hệ cấp địa phương này đối với tổng thể quan hệ đặc biệt Lào - Việt Nam.

Để hiện thực hóa mục đích trên, luận án giải quyết 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Phân tích những cơ sở hình thành và phát triển mối quan hệ giữa hai tỉnh Hủa Phăn (Lào) và Sơn La (Việt Nam).
  2. Phân tích các nhân tố tác động đến quan hệ Hủa Phăn - Sơn La qua từng giai đoạn lịch sử.
  3. Làm rõ quan hệ giữa hai tỉnh trên các lĩnh vực chính trị, an ninh - quốc phòng, kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế qua hai giai đoạn: 1975 - 1986 và 1986 - 2012.
  4. Đánh giá những thành tựu, hạn chế, rút ra các đặc điểm và nhận xét khoa học về quan hệ giữa hai tỉnh trong tiến trình 1975 - 2012.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ giữa tỉnh Hủa Phăn (Lào) và tỉnh Sơn La (Việt Nam) trên các lĩnh vực: chính trị, quốc phòng - an ninh, công tác biên giới, kinh tế, văn hóa, giáo dục và y tế từ năm 1975 đến năm 2012.
  • Phạm vi không gian: Trọng tâm là địa bàn hai tỉnh giáp biên Hủa Phăn (Lào) và Sơn La (Việt Nam), có mở rộng liên hệ với một số địa phương liên quan khác của hai nước như Luông Pha Băng, Xiêng Khoảng, Thanh Hóa, Nghệ An.
  • Phạm vi thời gian: Khung thời gian từ năm 1975 đến năm 2012. Năm 1975 đánh dấu mốc hai dân tộc giành độc lập hoàn toàn, thiết lập nhà nước mới và bước vào giai đoạn hợp tác toàn diện. Mốc năm 1986 là thời điểm hai nước cùng tiến hành công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội. Mốc năm 2012 được chọn làm điểm kết thúc vì đây là thời điểm Chính phủ hai nước thống nhất chọn Hủa Phăn và Xiêng Khoảng làm điểm thực hiện "Chiến lược hợp tác Việt Nam - Lào đến năm 2020", mở ra bước ngoặt hợp tác mới.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào toàn bộ các hoạt động hợp tác song phương trên các phương diện chính trị, an ninh - quốc phòng, công tác biên giới, kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế giữa chính quyền và nhân dân hai tỉnh.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng quan và phân loại hệ thống các công trình nghiên cứu liên quan theo 3 nhóm tác giả chính:

Các công trình của các nhà nghiên cứu Việt Nam

  • Về quan hệ quốc gia Việt Nam - Lào: Các tác phẩm nền tảng gồm Lịch sử Lào hiện đại (tập 1, 2) của Nguyễn Hùng Phi và Buasi Chalơnsúc (2006); Kỷ yếu hội thảo quốc tế Tình đoàn kết đặc biệt, liên minh chiến đấu và sự hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Lào do Viện Khoa học xã hội Việt Nam và Viện Khoa học xã hội quốc gia Lào phối hợp xuất bản (2007); tập sách Những con đường hữu nghị Việt - Lào của Bộ Giao thông Vận tải hai nước (2007) với bài viết của Sommad Pholsena và Xay Pakasum về các tuyến đường kết nối Hủa Phăn - Sơn La; Luận án Tiến sĩ Lịch sử của Nguyễn Thị Phương Nam (2007) về quan hệ hai nước 1975 - 2005; tác phẩm Cayxỏn Phômvihản tiểu sử và sự nghiệp của Đức Vượng (2008); bộ công trình Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào; Lào - Việt Nam (1930 - 2007) gồm 6 sản phẩm do Bộ Chính trị hai Đảng chỉ đạo biên soạn (2011, 2012); Đặc san Việt Nam - Lào 50 năm hợp tác và phát triển (1962 - 2012) với các bài viết của Kim Ngọc, Nguyễn Hào Hùng, Trương Duy Hòa; Luận án Tiến sĩ của Uông Minh Long (2012) về đối ngoại củng cố độc lập của Lào (1975 - 2010); Kỷ yếu Hội thảo khoa học 40 năm ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác do Trường Đại học Tây Bắc chủ trì (2017); Luận án Tiến sĩ của Lê Quang Mạnh (2017) về đào tạo cán bộ an ninh Lào (1962 - 2012).
  • Về quan hệ cấp địa phương và tỉnh Sơn La: Lịch sử Bộ đội Biên phòng Sơn La Tập 1 (1959 - 2000) (2004); Sơn La, Lịch sử kháng chiến chống Mĩ cứu nước (1954 - 1975) (2004); Lịch sử Đảng bộ tỉnh Sơn La tập III (1976 - 2000) (2005); Sơn La thế và lực mới trong thế kỷ XXI do Chu Viết Luân chủ biên (2008); Lịch sử công tác Đảng, công tác chính trị trong lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Sơn La (1945 - 2010) (2010); Luận án Tiến sĩ của Bùi Văn Hào (2011) về quan hệ 4 tỉnh Trung - Bắc Lào (Hủa Phăn, Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay, Khăm Muộn) với Nghệ An, Hà Tĩnh; sách Thanh Hóa với cách mạng Lào và tỉnh Hủa Phăn (1930 - 2010) (2012); tham luận của Thào Xuân Sùng tại Hội nghị Quốc hội hai nước (2012); Kỷ yếu Công tác tăng dày và tôn tạo hệ thống mốc quốc giới Việt Nam - Lào trên địa bàn tỉnh Sơn La (2013); Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Trọng Tứ (2013) về quan hệ Hà Tĩnh với Bôlykhămxay, Khăm Muộn; bài viết của Dương Hà Hiếu (2017) về quản lý biên giới Sơn La - Hủa Phăn 1977 - 2005; bài viết của Lại Trang Huyền và Đào Văn Trưởng (2017) về thách thức hợp tác giữa Sơn La và 8 tỉnh Bắc Lào.

Các công trình của các nhà nghiên cứu Lào

  • Tác phẩm Xây dựng một nước Lào hòa bình, độc lập và chủ nghĩa xã hội của Chủ tịch Cayxỏn Phômvihản (1978); Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ xâm lược của lực lượng vũ trang và nhân dân các tỉnh Thượng Lào (1945 - 1975) (2007) và Lịch sử liên minh đoàn kết chiến đấu đặc biệt giữa Quân đội nhân dân Lào và Quân đội nhân dân Việt Nam (1945 - 1975) (2010) của Cục Khoa học Lịch sử - Quân sự Bộ Quốc phòng Lào.
  • Các luận án tiến sĩ: Nhotkhammani Souphanouvong (2016) về các nhân tố chi phối quan hệ đặc biệt Lào - Việt Nam (1986 - 2011); Viêngxay Thammasmith (2016) về bảo vệ độc lập dân tộc của Lào trên lĩnh vực chính trị - an ninh (1986 - 2012); Văn Khăm Pheng Thíp Mun Taly (2006) về tổ chức xã hội truyền thống của người Phu Thay ở tỉnh Hủa Phăn.
  • Tài liệu địa phương: Lịch sử truyền thống đấu tranh cách mạng tỉnh Hủa Phăn Tập I do Tỉnh ủy Hủa Phăn biên soạn (1999); Báo cáo tham luận của tỉnh Hủa Phăn tại Hội nghị hợp tác Quốc hội hai nước tại Sơn La (2012).

Các công trình của các nhà nghiên cứu phương Tây

  • Các ấn phẩm thời kỳ chiến tranh: Indochine the people will win (1970); Nina S. Adams và Alfred W. McCoy (1970) với Laos: War and Revolution; Paul F. Langer và Joseph J. Zasloff (1970) với North Vietnam and the Pathet Lao: Partners in the Struggle for Laos (nghiên cứu thực địa của tổ chức Rand Corporation).
  • Các công trình giai đoạn sau: Martin Stuart-Fox với A History of Laos (1998) và bài báo "Laos: the Vietnamese connection" trên tạp chí Southeast Asian Affairs (1980); Kristina Jonsson và Catarina Kinnvall (2002) với Globalization and Democratization in Asia: The Construction of Identity; Ronald Bruce St John (2006) với Revolution, reform and regionalism in Southeast Asia (Cambodia, Laos and Vietnam).

Vị trí và khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình trên chủ yếu nghiên cứu ở cấp độ toàn cục quốc gia Việt Nam - Lào, hoặc nếu nghiên cứu cấp tỉnh thì tập trung vào các tỉnh miền Trung Việt Nam với Lào, hoặc chỉ đề cập mối quan hệ Sơn La - Hủa Phăn dưới dạng các bài viết hội thảo ngắn, các báo cáo tổng kết hành chính, hoặc khảo sát trong các giai đoạn ngắn trước năm 1975. Luận án của Đặng Thị Hồng Liên là công trình chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống, xuyên suốt cả quá trình vận động từ năm 1975 đến năm 2012 của cặp quan hệ địa phương giáp biên Hủa Phăn - Sơn La trên tất cả các trụ cột hợp tác.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và khung phân tích

Luận án dựa trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế vô sản và đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào về quan hệ quốc tế trong giai đoạn hiện đại. Luận án phân tích mối quan hệ song phương cấp địa phương dựa trên khung tương tác giữa yếu tố địa - chiến lược, tính tương đồng văn hóa - tộc người, nền tảng lịch sử liên minh chiến đấu và sự gắn kết về lợi ích an ninh, phát triển kinh tế vùng biên giới.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án thuộc loại hình nghiên cứu lịch sử (định tính), sử dụng kết hợp các phương pháp chuyên ngành và liên ngành:

  • Phương pháp chủ yếu: Phương pháp lịch sử và phương pháp logic được áp dụng xuyên suốt nhằm tái hiện tiến trình quan hệ Hủa Phăn - Sơn La theo trình tự thời gian khách quan, đồng thời khái quát hóa bản chất, quy luật vận động, thành tựu và hạn chế của mối quan hệ qua từng giai đoạn.
  • Phương pháp khu vực học và nghiên cứu trường hợp (case study): Đặt cặp quan hệ Hủa Phăn - Sơn La trong không gian địa lý vùng Tây Bắc Việt Nam và Thượng Lào, làm rõ tính đặc thù của một cặp tỉnh biên giới miền núi.
  • Phương pháp bổ trợ: Phương pháp so sánh lịch sử (đối chiếu giữa hai giai đoạn 1975 - 1986 và 1986 - 2012, so sánh với các cặp quan hệ địa phương khác dọc tuyến biên giới Việt - Lào); phương pháp phân tích và tổng hợp tư liệu; phương pháp điền dã lịch sử và phỏng vấn chuyên gia, nhân chứng; phương pháp thống kê, lập bảng biểu đối chiếu dữ liệu.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Tư liệu gốc bằng tiếng Việt và tiếng Lào: Các văn kiện chỉ đạo của Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và Đảng Cộng sản Việt Nam; văn kiện Đại hội Đảng bộ và quyết định của chính quyền hai tỉnh Hủa Phăn và Sơn La giai đoạn 1975 - 2012; các văn bản điều ước, hiệp định, hiệp ước biên giới quốc gia giữa hai nước; hệ thống các biên bản ghi nhớ, biên bản hội đàm thường niên, thỏa thuận hợp tác giữa Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân/Ủy ban Chính quyền hai tỉnh; báo cáo sơ kết, tổng kết công tác đối ngoại biên giới của Sở Ngoại vụ, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Sơn La và Công an tỉnh Sơn La qua các thời kỳ lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III và kho lưu trữ địa phương.
  • Tài liệu nghiên cứu và ấn phẩm khoa học: Sách chuyên khảo, bài báo trên các tạp chí chuyên ngành lịch sử, quan hệ quốc tế, kỷ yếu hội thảo khoa học và các luận án tiến sĩ liên quan của Việt Nam, Lào và quốc tế.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương này khảo sát, phân tích một khối lượng lớn tài liệu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo 3 nhóm: các công trình của tác giả Việt Nam, tác giả Lào và tác giả phương Tây. Chương 1 làm rõ các nội dung khoa học đã được giải quyết, chỉ ra khoảng trống về mặt dữ liệu và phân tích đối với quan hệ Hủa Phăn - Sơn La giai đoạn 1975 - 2012, từ đó xác lập 5 nhiệm vụ trọng tâm mà luận án trực tiếp giải quyết.

Chương 2: Cơ sở của mối quan hệ giữa hai tỉnh Hủa Phăn (Lào) và Sơn La (Việt Nam)

Chương 2 luận giải các yếu tố nền tảng cấu thành nên sự gắn kết tự nhiên và lịch sử giữa hai tỉnh:

  • Cơ sở địa - chính trị, kinh tế: Hủa Phăn có diện tích tự nhiên 16.500 km² (rộng Đông - Tây 144 km, dài Bắc - Nam 204 km, tỉnh lỵ Sầm Nưa, tiếp giáp 3 tỉnh Việt Nam là Sơn La 210 km, Thanh Hóa 296 km, Nghệ An 53 km). Sơn La có diện tích 14.174 km² (chiếm 4,2% diện tích Việt Nam). Hai tỉnh có chung 210 km đường biên giới qua 11 xã thuộc 4 huyện của Hủa Phăn (Sốp Bâu, Xiềng Khọ, Mường Ét, Viêng Thoong) giáp với 5 huyện của Sơn La (Mộc Châu, Yên Châu, Mai Sơn, Sông Mã, Sốp Cộp). Địa hình hai tỉnh hiểm trở, độ cao trung bình 1.000m, chia cắt mạnh bởi các dãy núi Pu Xam Sẩu, Pu Chửn, Pu Giai Thẩu, Pu Khoai, Pu Săn Cạng, Pu Ta Nê, Pu Khau Quang, Pu Pha Luông. Khí hậu hai bên đều thuộc miền nhiệt đới gió mùa chí tuyến. Các trục giao thông huyết mạch gồm Quốc lộ 43 qua cửa khẩu Lóng Sập sang Sầm Nưa, Đường 22 từ cửa khẩu Chiềng Khương qua Mường Ét đi Sầm Nưa, đường Cò Nòi - Sốp San qua trạm Nà Cài, đường Sốp Cộp qua Lạnh Bánh sang Mường Son.
  • Cơ sở dân cư và văn hóa: Cư dân hai bên biên giới thuộc các nhóm dân tộc có cùng nguồn gốc ngôn ngữ Thái - Kadai (Thái đen, Thái trắng ở Sơn La và Phu Thay, Thái Đen, Thái Puổn ở Hủa Phăn). Tác giả thiết lập bảng so sánh ngôn ngữ chứng minh sự tương đồng từ vựng cơ bản:
Tiếng Việt Tiếng Thái Việt Nam Tiếng Lào Tiếng Thái Lào
Không Bo Bo Pày
Người Kôn Khôn Kôn
Núi Pú Phu Pu
Bò Ngua Ngua Ngô
Vợ Mia Mia Mê
Muối Cưa Cưa Cơ
Con Trâu Quai Khuôi Kuôi

Hai bên có chung các phong tục tập quán, lễ hội nông nghiệp chu kỳ (lễ pháo thăng thiên, lễ cầu mưa, lễ cơm mới "khảu mớ" / "Bun khảu chì", lễ "Bun khun khảu nay lan", lễ "xên bản", "xên mường"), tục thách cưới, ở rể, thiêu xác và tín ngưỡng thờ Then, thờ Phi (phi hươn, phi bản, phi mường) cùng ảnh hưởng của Phật giáo.

  • Cơ sở lịch sử: Mối quan hệ tương trợ lâu đời qua các thời kỳ: khởi nghĩa Lam Sơn (thế kỷ XV), phong trào Hoàng Công Chất (1751) liên kết đuổi giặc Phẻ; hợp sức chống giặc Cờ Vàng (1880); phong trào chống Pháp của Lường Sám (1914 - 1917), phong trào Vừ Páo Chay và Vàng Nềnh Pha (1918); tổ chức "Hội Người Thái cứu quốc" (1941). Trong kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954), Sơn La là căn cứ địa, nơi Ban xung phong Lào Bắc đứng chân tại bản Lao Khô (Chiềng On, Yên Châu) ngày 20/5/1948 do đồng chí Cayxỏn Phômvihản phụ trách; phục vụ chiến dịch Sông Mã (1949) và chiến dịch Thượng Lào (1953), nhân dân Sơn La cùng Tây Bắc đóng góp 6.300 tấn gạo, 200 tấn muối, 290 tấn thịt, huy động 62.500 lượt dân công với 2.000 ngày công giải phóng Sầm Nưa. Trong kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975), hai tỉnh phối hợp tiễu phỉ Vàng Pao (lực lượng phỉ có 2.080 tên), dập tắt các vụ "xưng vua, đón vua" kích động ly khai (tháng 5-6/1957) tại Mộc Châu, Sông Mã, Mai Sơn; giải phóng Sầm Nưa (tháng 10/1960); ký thỏa thuận hợp tác chính thức tháng 11/1969 và Sơn La lập Ban công tác C tham mưu giúp đỡ Bắc Lào.
  • Cơ sở lợi ích và chủ trương: Yêu cầu bảo đảm an ninh biên giới, ổn định kinh tế xã hội và các định hướng trong Hiệp ước hữu nghị và hợp tác Việt Nam - Lào ký ngày 18/7/1977.

Chương 3: Quan hệ Hủa Phăn - Sơn La giai đoạn 1975 - 1986

Chương này làm rõ quan hệ hai tỉnh trong thập niên đầu sau ngày giải phóng:

  • Bối cảnh tác động: Hai nước bắt tay hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, đối mặt với sự bao vây cấm vận và những diễn biến phức tạp của tình hình khu vực Đông Nam Á cuối thập niên 1970.
  • Hợp tác chính trị, quốc phòng, an ninh và công tác biên giới: Thiết lập các cuộc hội đàm định kỳ giữa Tỉnh ủy và Ủy ban hai tỉnh; phối hợp bảo vệ mốc giới quốc gia; truy quét các toán tàn quân phỉ và gián điệp biệt kích dọc biên giới; hỗ trợ Lào củng cố bộ máy chính quyền nhân dân cấp huyện, xã giáp ranh.
  • Hợp tác kinh tế, văn hóa, giáo dục và y tế: Sơn La cử chuyên gia nông nghiệp, thủy lợi, giao thông sang hỗ trợ Hủa Phăn; cung cấp cây con giống và hàng hóa tiêu dùng thiết yếu; tiếp nhận học sinh, cán bộ tỉnh Hủa Phăn sang học tập, bồi dưỡng tại các trường sư phạm, hành chính của Sơn La; cử các đội y tế sang hỗ trợ dập dịch bệnh và khám chữa bệnh cho cư dân biên giới tỉnh bạn.

Chương 4: Quan hệ Hủa Phăn - Sơn La giai đoạn 1986 - 2012

Chương 4 tái hiện bước chuyển mình của quan hệ hai tỉnh dưới tác động của công cuộc đổi mới:

  • Bối cảnh tác động: Đường lối đổi mới toàn diện của hai Đảng (từ năm 1986), sự chấm dứt Chiến tranh Lạnh, hai nước gia nhập ASEAN, chính sách mở cửa biên giới và hội nhập kinh tế quốc tế.
  • Hợp tác chính trị, quốc phòng, an ninh và công tác biên giới: Triển khai công tác tăng dày và tôn tạo hệ thống mốc quốc giới Việt Nam - Lào trên thực địa; duy trì cơ chế giao ban thường niên giữa Bộ Chỉ huy Quân sự, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng và Công an tỉnh Sơn La với các lực lượng tương ứng của tỉnh Hủa Phăn; phối hợp đấu tranh phòng chống tội phạm xuyên quốc gia, ngăn chặn tệ nạn buôn bán ma túy, buôn lậu vũ khí, giải quyết tình trạng di cư tự do, kết hôn không giá thú và xâm canh xâm cư khu vực biên giới.
  • Hợp tác kinh tế, giao thông và thương mại: Chuyển từ viện trợ đơn phương sang hợp tác bình đẳng cùng có lợi; đầu tư nâng cấp các tuyến giao thông đối ngoại kết nối hai tỉnh (Quốc lộ 43, đường 22) và hệ thống hạ tầng tại các cặp cửa khẩu Lóng Sập - Pa Háng, Chiềng Khương - Bản Đán; đẩy mạnh xúc tiến thương mại biên mậu. Thống kê đến năm 2012 ghi nhận có 89 đơn vị, doanh nghiệp Việt Nam đầu tư tại Hủa Phăn, trong đó tỉnh Sơn La đóng góp 23 đơn vị trực tiếp đầu tư vào các dự án nông - lâm nghiệp, khai khoáng, xây dựng cơ sở hạ tầng.
  • Hợp tác giáo dục, y tế và văn hóa: Sơn La trở thành trung tâm đào tạo nhân lực chủ lực cho các tỉnh Bắc Lào, trong đó có Hủa Phăn, thông qua các chương trình học bổng tại Trường Đại học Tây Bắc, Trường Cao đẳng Sư phạm, Cao đẳng Y tế Sơn La; Bệnh viện Đa khoa tỉnh Sơn La tiếp nhận khám, điều trị bệnh nhân cho tỉnh Hủa Phăn; hai tỉnh tổ chức định kỳ các hoạt động giao lưu văn hóa nghệ thuật, thể thao quần chúng vùng biên giới.

Chương 5: Nhận xét về quan hệ Hủa Phăn - Sơn La từ năm 1975 đến năm 2012

Chương 5 tổng kết, đánh giá toàn diện tiến trình phát triển của quan hệ song phương:

  • Thành tựu và nguyên nhân: Giữ vững ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn vùng biên giới; xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho Hủa Phăn; thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Nguyên nhân thành tựu bắt nguồn từ sự chỉ đạo sát sao của lãnh đạo cấp cao hai Đảng, Nhà nước; sự tương đồng về vị trí địa lý, văn hóa, phong tục; và truyền thống liên minh đoàn kết bền chặt hình thành từ các cuộc kháng chiến.
  • Hạn chế và nguyên nhân: Kim ngạch thương mại biên mậu còn thấp so với tiềm năng; hệ thống hạ tầng giao thông kết nối vùng cao còn nhiều trắc trở; quy mô đầu tư của các doanh nghiệp còn nhỏ; việc quản lý cư dân biên giới (di cư tự do, hôn nhân không giá thú) còn phát sinh phức tạp. Nguyên nhân do điều kiện địa hình chia cắt, xuất phát điểm kinh tế của hai tỉnh đều thấp, nguồn lực ngân sách địa phương hạn hẹp.
  • Đặc điểm nổi bật: Quan hệ phát triển qua hai giai đoạn rõ rệt (1975 - 1986 là giai đoạn tương trợ, khắc phục hậu quả chiến tranh; 1986 - 2012 là giai đoạn hợp tác toàn diện, đa phương thức theo cơ chế thị trường); quan hệ địa phương vận động trong sự tương tác phụ thuộc chặt chẽ vào khuôn khổ quan hệ đặc biệt cấp quốc gia; trụ cột chính trị - quốc phòng - an ninh luôn giữ vai trò nòng cốt, chi phối các lĩnh vực khác; mối quan hệ này mang tính điển hình cao cho mô hình hợp tác giữa các địa phương giáp biên giới của hai nước Việt Nam - Lào.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Luận án góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ tương tác hữu cơ giữa quan hệ cấp địa phương với tổng thể quan hệ cấp quốc gia; khẳng định vị trí, vai trò của quan hệ đối ngoại giữa các địa phương có chung đường biên giới trong việc củng cố an ninh quốc gia và phát triển kinh tế vùng biên trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập khu vực.
  • Cung cấp luận cứ khoa học khẳng định tính chất đặc biệt, toàn diện của liên minh chiến đấu và quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Lào từ góc tiếp cận lịch sử khu vực học và địa phương học.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Là công trình chuyên khảo đầu tiên tổng kết, đánh giá toàn diện, có hệ thống quá trình phát triển của quan hệ hai tỉnh Hủa Phăn và Sơn La suốt 37 năm (1975 - 2012), phục dựng bức tranh toàn cảnh về thành tựu, hạn chế và đặc điểm của mối quan hệ này.
  • Bổ sung hệ thống tư liệu gốc phong phú (văn kiện lưu trữ, thỏa thuận song phương, biên bản hội đàm, số liệu thống kê thực tế) phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy lịch sử quan hệ đối ngoại Việt Nam - Lào và lịch sử địa phương hai tỉnh.
  • Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở thực tiễn phục vụ các nhà hoạch định chính sách, các cơ quan ban ngành và chính quyền hai tỉnh Sơn La, Hủa Phăn xây dựng chiến lược, cơ chế chính sách nhằm nâng cao hiệu quả hợp tác song phương trong các giai đoạn tiếp theo.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Tăng cường đầu tư đồng bộ cho kết cấu hạ tầng giao thông kết nối liên vùng, trọng tâm là nâng cấp các tuyến đường huyết mạch dẫn tới các cặp cửa khẩu (như Lóng Sập - Pa Háng, Chiềng Khương - Bản Đán).
  • Đổi mới cơ chế phối hợp quản lý biên giới, tiếp tục hoàn thiện công tác cắm mốc, tăng cường tuần tra liên hợp bảo vệ an ninh trật tự, ngăn chặn tội phạm xuyên quốc gia và giải quyết dứt điểm các vấn đề di cư tự do, xâm canh xâm cư.
  • Đẩy mạnh liên kết kinh tế theo hướng khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào chế biến nông - lâm sản, dịch vụ logistics cửa khẩu, gắn hợp tác kinh tế với nâng cao đời sống dân sinh vùng đồng bào các dân tộc thiểu số biên giới.
  • Mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng các chương trình đào tạo nguồn nhân lực, giao lưu văn hóa và hỗ trợ y tế cộng đồng cho nhân dân tỉnh Hủa Phăn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của công trình

  • Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu đến mốc năm 2012, chưa bao quát được các bước phát triển mới trong việc thực hiện thỏa thuận cấp chính phủ về "Chiến lược hợp tác Việt Nam - Lào đến năm 2020" sau mốc thời gian này.
  • Các số liệu thống kê về kinh tế, thương mại tiểu ngạch và giao lưu nhân dân trong giai đoạn 1975 - 1986 còn chịu sự hạn chế do nguồn tài liệu lưu trữ phân tán và điều kiện bảo mật của hồ sơ địa phương.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng nghiên cứu so sánh đối chiếu giữa cặp quan hệ Hủa Phăn - Sơn La với các cặp quan hệ địa phương giáp biên khác dọc tuyến biên giới Việt - Lào (như Sơn La - Luông Pha Băng, Điện Biên - Phông Xa Lỳ, Thanh Hóa - Hủa Phăn, Nghệ An - Xiêng Khoảng).
  • Tiếp tục theo dõi, đánh giá thực trạng hợp tác giữa hai tỉnh Sơn La và Hủa Phăn trong giai đoạn sau năm 2012, đặc biệt là tác động của các hiệp định thương mại biên giới thế hệ mới và các tuyến hành lang kinh tế khu vực tiểu vùng Mê Kông mở rộng (GMS).

Giá trị tham khảo

Đối tượng sử dụng

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên: Thuộc các chuyên ngành Lịch sử thế giới, Lịch sử Việt Nam, Quan hệ quốc tế, Khu vực học, Đông Nam Á học, Dân tộc học và Văn hóa học.
  • Giảng viên và nhà nghiên cứu: Tại các viện nghiên cứu, trường đại học (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Học viện Ngoại giao, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Trường Đại học Tây Bắc, các trường đào tạo lực lượng vũ trang).
  • Cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Ban Đối ngoại Trung ương, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân, Sở Ngoại vụ và các lực lượng vũ trang hai tỉnh Sơn La, Hủa Phăn.
  • Cộng đồng doanh nghiệp: Các hiệp hội doanh nghiệp, nhà đầu tư quan tâm đến việc mở rộng thị trường, triển khai các dự án thương mại - đầu tư tại khu vực Bắc Lào.

Các nội dung đáng tham khảo

  • Khối tư liệu gốc về các hiệp định, biên bản hội đàm, quy chế quản lý biên giới và công tác tăng dày, tôn tạo mốc quốc giới giữa hai tỉnh.
  • Bảng biểu đối chiếu ngôn ngữ học và các dữ liệu khảo sát dân tộc học về sự tương đồng văn hóa giữa các nhóm cư dân Thái tại Việt Nam và Lào.
  • Khung phân tích tiến trình lịch sử liên minh chiến đấu và kinh nghiệm phối hợp bảo vệ an ninh trật tự khu vực giáp biên qua hai thời kỳ kháng chiến và thời kỳ đổi mới.

Câu hỏi thường gặp

1. Đường biên giới tiếp giáp giữa Hủa Phăn và Sơn La có chiều dài bao nhiêu và phân bố qua các đơn vị hành chính nào?

Hai tỉnh Hủa Phăn và Sơn La có chung 210 km đường biên giới (chiếm 1/10 tổng chiều dài biên giới quốc gia Lào - Việt Nam). Tuyến biên giới này chạy qua 11 xã thuộc 4 huyện của tỉnh Hủa Phăn (xã Mường Pợ thuộc huyện Viêng Thoong; 10 xã thuộc các huyện Xiềng Khọ, Sốp Bâu, Mường Ét) tiếp giáp với 5 huyện của tỉnh Sơn La (Sốp Cộp, Sông Mã, Mai Sơn, Yên Châu và Mộc Châu).

2. Mốc thời gian năm 1986 và năm 2012 có ý nghĩa lịch sử như thế nào trong phân kỳ nghiên cứu của luận án?

Năm 1986 là mốc đánh dấu sự kiện quan trọng khi hai nước Việt Nam và Lào cùng bắt đầu thực hiện đường lối đổi mới, chuyển nền kinh tế sang cơ chế thị trường, tạo tiền đề để quan hệ hai tỉnh chuyển từ cơ chế tương trợ bao cấp sang hợp tác toàn diện, đa dạng hóa các lĩnh vực, đặc biệt là kinh tế. Năm 2012 là thời điểm Chính phủ hai nước thống nhất chọn Hủa Phăn và Xiêng Khoảng làm điểm thực hiện "Chiến lược hợp tác Việt Nam - Lào đến năm 2020", mở ra giai đoạn phát triển mới và kết thúc chu kỳ nghiên cứu của đề tài.

3. Sự tương đồng về ngôn ngữ giữa cư dân hai tỉnh được luận án minh chứng qua những ví dụ từ vựng nào?

Luận án dẫn chứng sự tương đồng về nguồn gốc ngữ âm và ngữ nghĩa của các nhóm tiếng Thái - Lào qua bảng so sánh các từ vựng cơ bản: từ "Không" (tiếng Thái Việt: Bo, tiếng Lào: Bo, tiếng Thái Lào: Pày), "Người" (tiếng Thái Việt: Kôn, tiếng Lào: Khôn, tiếng Thái Lào: Kôn), "Núi" (tiếng Thái Việt: Pú, tiếng Lào: Phu, tiếng Thái Lào: Pu), "Bò" (tiếng Thái Việt: Ngua, tiếng Lào: Ngua, tiếng Thái Lào: Ngô), "Vợ" (tiếng Thái Việt: Mia, tiếng Lào: Mia, tiếng Thái Lào: Mê), "Muối" (tiếng Thái Việt: Cưa, tiếng Lào: Cưa, tiếng Thái Lào: Cơ), "Con Trâu" (tiếng Thái Việt: Quai, tiếng Lào: Khuôi, tiếng Thái Lào: Kuôi).

4. Tỉnh Sơn La đã giữ vai trò căn cứ địa và hậu phương như thế nào đối với cách mạng Lào và tỉnh Hủa Phăn trong hai cuộc kháng chiến trước năm 1975?

Trong kháng chiến chống Pháp, ngày 20/5/1948, Ban xung phong Lào Bắc do đồng chí Cayxỏn Phômvihản làm Trưởng ban đã chọn bản Lao Khô (xã Chiềng On, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La) làm căn cứ đứng chân, huấn luyện lực lượng để tiến về xây dựng căn cứ kháng chiến Viêng Xay (Hủa Phăn); nhân dân Sơn La đã đóng góp 6.300 tấn gạo, 200 tấn muối, 290 tấn thịt, 62.500 lượt dân công phục vụ chiến dịch Thượng Lào (1953) giải phóng Sầm Nưa. Trong kháng chiến chống Mỹ, Sơn La tiếp tục là hậu phương an toàn cho cán bộ, nhân dân Hủa Phăn sơ tán lánh nạn, phối hợp tiễu phỉ Vàng Pao, đập tan các vụ "xưng vua đón vua" (1957) và hỗ trợ giải phóng toàn bộ Sầm Nưa vào tháng 10/1960.

5. Đến năm 2012, sự tham gia của các doanh nghiệp tỉnh Sơn La vào hoạt động đầu tư tại Hủa Phăn đạt quy mô như thế nào?

Theo số liệu thống kê được luận án trích xuất từ báo cáo tham luận tại Hội nghị hợp tác Quốc hội hai nước năm 2012, trong tổng số 89 đơn vị và nhà đầu tư của Việt Nam có hoạt động đầu tư trên địa bàn tỉnh Hủa Phăn, tỉnh Sơn La đóng góp 23 đơn vị, tập trung vào các lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, giáo dục, y tế và chuyển giao kỹ thuật cây con giống nông nghiệp.


Kết luận

Luận án Tiến sĩ Lịch sử của tác giả Đặng Thị Hồng Liên là công trình khoa học chuyên khảo phục dựng một cách toàn diện và có hệ thống tiến trình quan hệ giữa hai tỉnh giáp biên Hủa Phăn (Lào) và Sơn La (Việt Nam) trong giai đoạn 1975 - 2012. Bằng nguồn tư liệu gốc phong phú và phương pháp nghiên cứu lịch sử kết hợp khu vực học, công trình đã làm rõ những cơ sở tự nhiên, văn hóa, lịch sử, phân tích sâu sắc các thành tựu và hạn chế trên từng lĩnh vực hợp tác cụ thể qua hai thời kỳ 1975 - 1986 và 1986 - 2012. Luận án khẳng định quan hệ Hủa Phăn - Sơn La là mô hình thu nhỏ sinh động của mối quan hệ đoàn kết đặc biệt Việt - Lào, cung cấp hệ luận cứ khoa học có giá trị cao cho việc hoạch định chính sách đối ngoại biên giới và công tác nghiên cứu lịch sử quan hệ quốc tế.