Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và nguồn tƣ liệu. Tiền đề, điều kiện để tƣ bản Pháp thực hiện khai mỏ ở Lào Cai. Hoạt động khảo sát, thăm dò và khai thác mỏ của tƣ bản Pháp ở Lào Cai (1896 - 1945).
Đặc điểm và tác động của hoạt động khai mỏ đối với đời sống kinh tế - xã hội Lào Cai. 6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TƢ LIỆU 1. Nghiên cứu về khai mỏ ở Việt Nam trƣớc năm 1945 Vấn đề khai thác mỏ ở Việt Nam đƣợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Nhiều công trình nghiên cứu của tác giả trong và ngoài nƣớc về hoạt động khai thác mỏ khoáng sản trƣớc năm 1945 đƣợc công bố.
Trƣớc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, hoạt động thác mỏ ở nƣớc ta đƣợc biết đến qua những ghi chép rải rác trong các bộ sách Đại Nam nhất thống chí, Đại Nam thực lục, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Đồng Khánh Dƣ địa chí do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn. Khai khoáng ở Lào Cai dƣới thời Nguyễn đƣợc nhắc đến qua hoạt động khai thác các mỏ đồng Trình Lạn, Phong Dụ… Ngay từ trƣớc và sau khi xâm lƣợc, ngƣời Pháp nghiên cứu rất kỹ về kinh tế - xã hội Việt Nam. Trong đó, khai thác mỏ là một là một trong những ngành kinh tế công nghiệp thu hút sự chú ý của các học giả, các cá nhân, tổ chức nghiên cứu về địa chất và khai thác mỏ. Cụ thể, có những công trình nghiên cứu sau: L’Indochine Francaise (souvenirs) [Xứ Đông Dương thuộc Pháp - Hồi ký] Paul Doumer, 1905; Notice sur la carte geologique et les mines de l’ Indochine (Sơ lược về địa đồ các mỏ ở Đông Dương) Sở Mỏ Đông Dƣơng, 1906; En Indocline – Du sous-sol Conférence (Bài thuyết trình về khoáng sản Đông Dương), J.
Các công trình này cho thấy tiềm năng khoáng sản của Việt Nam rất phong phú và đa dạng, hứa hẹn nguồn lợi lớn cho các nhà tƣ bản công nghiệp Pháp. Năm 1931, tác giả Louis Roubaud công bố công trình “Vietnam tragédie Indochinoise (Việt Nam bi thảm Đông Dương”) [Nxb Valois ở Pari]. Tác phẩm này đƣợc Đƣờng Bá Bổn dịch và Nxb Đại Nam văn hiến xuất bản ở Sài Gòn. Nội dung nghiên cứu cung cấp những thông tin quan trọng về tình hình công nhân Việt Nam dƣới chính sách bóc lột của chính quyền thực dân Pháp.
Cụ thể: vấn đề “cu li” với quyền đƣợc hội họp, đình công, đấu tranh chống tuyển “cu li” cho nƣớc ngoài; hoặc đấu tranh đòi tƣ bản Pháp “Áp dụng luật lệ thợ thuyền mẫu quốc, cấm tuyển dụng “cu li”… Về việc tuyển dụng thợ làm việc trong các đồn điền và trƣờng mỏ, tác giả đƣa ra một số minh họa điển hình về thủ đoạn của bọn cai mộ, về ngƣời công nhân đƣợc tuyển mộ. Kết quả nghiên cứu này góp phần bổ sung vào nghiên cứu việc tuyển mộ nhân công cho xây dựng tuyến đƣờng sắt Yên Bái – Lào Cai và cho các công trƣờng mỏ trên địa bàn Lào Cai. 7 Tác giả ngƣời Pháp là P.Guillaumat đã nghiên cứu vấn đề: “L’ Industrie Minérale de L’ Indochine (Công nghiệp mỏ Đông Dương). Nội dung nghiên cứu đã cung cấp thông tin quan trọng về hoạt động khai thác mỏ ở Việt Nam, nhƣ: thủ tục cấp phép thăm dò, xác nhận quyền sở hữu nhƣợng khu mỏ đến quá trình sản xuất, chế biến, sản lƣợng mỏ qua một số năm 1933, 1934, 1936 và 1937.
Nghiên cứu này giúp cho tác giả hiểu thêm về các hoạt động khai thác mỏ khi viết luận án. Năm 1934, André Hibon công bố công trình La crise économique en Indochine” (Cuộc khủng hoảng kinh tế ở Đông Dƣơng), [Tổng hội in và Xuất bản, Pari]. Công trình nghiên cứu tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 – 1933) đến Đông Dƣơng nói chung và Việt Nam nói riêng. Cuộc khủng hoảng đã tác động đến các ngành kinh kế Việt Nam, trong đó có công nghiệp khai mỏ.
Trên cơ sở tác động của khủng hoảng kinh tế, tác giả chỉ ra nguyên nhân sụt giảm sản lƣợng khai thác phosphate Đông Dƣơng (khai thác apatile Lào Cai cũng bị ảnh hƣởng nghiêm trọng). Năm 1941, Chính quyền Đông Dƣơng, Ban giám đốc các Sở Kinh tế công bố bản “Accords économiques Franco-japonais relatifs à l’Indochine” (Thỏa thuận kinh tế Pháp – Nhật liên quan tới Đông Dương), [Nhà in Viễn Đông, Hà Nội]. Bản thỏa thuận cho biết, Pháp buộc phải kí với Nhật một thỏa thuận kinh tế tại Tokyo. Thỏa thuận kinh tế này gồm 16 điều khoản, cho phép ngƣời Nhật ở Đông Dƣơng có quyền tự do đi lại, hoạt động thƣơng mại, công nghiệp.
Ngay sau thỏa thuận kinh tế Pháp – Nhật, các công ty Nhật thâu tóm các mỏ ở Lào Cai, đặc biệt là than chì và apatite. Năm 1948, James Boyd công bố công trình “Economics and statistics division: Mineral trade notes” (Kinh tế và thống kế lĩnh vực: Ghi chép về thương mại mỏ). Công trình nghiên cứu cho biết, năm 1940, các Công ty và Tập đoàn của Nhật đã thành lập Công ty khai thác phosphates Đông Dƣơng (Société d’Exploitation des phosphates de l’Indochine), trụ sở đặt tại Hà Nội. Từ năm 1941 đến năm 1943, các công ty của Nhật tiến khai thác các mỏ apatile ở Lào Cai (chủ yếu tập trung ở Cam Đƣờng), vận chuyển apatile từ Lào Cai về Hải Phòng rồi xuất khẩu sang Nhật.
Sau Cách mạng tháng Tám, nhất là từ năm 1954 đến nay, giới sử học nƣớc ta công bố khá nhiều công trình nghiên cứu về tình hình chính trị, kinh tế, xã hội Việt Nam thời kỳ thực dân Pháp thống trị. Năm 1956 – 1957, nhà sử học Trần Huy Liệu chủ biên biên soạn 12 tập “Tài liệu tham khảo lịch sử cách mạng cận đại Việt 8 Nam”. Nội dung tài liệu đã cung cấp những thông tin quan trọng về công nghiệp mỏ ở Đông Dƣơng: nêu thực trạng của ngành khai mỏ quặng, sản lƣợng than và khoáng sản của toàn Đông Dƣơng trong một số năm (tập VII); Nhật vào Đông Dƣơng (1940) và các hoạt động khai khoáng của công ty Nhật (Tập VIII); Tác giả thống kê số vốn của các công ty Pháp bỏ ra khai thác ở Đông Dƣơng từ năm 1939 đến 1945, trong đó có vốn đầu tƣ cho ngành khai thác mỏ; Ngoài ra, tài liệu cung cấp bảng biểu thống kê: giấy phép tìm mỏ; về số lƣợng và diện tích nhƣợng địa về mỏ; trọng lƣợng nguyên liệu mỏ sản xuất và giá trị nguyên liệu mỏ sản xuất đƣợc qua các năm ở Đông Dƣơng (chủ yếu từ năm 1939 đến năm 1945). Nhƣ vậy, với những thông tin và nguồn tài liệu quan trọng sẽ giúp tác giả Luận án bổ sung số liệu, sản phẩm và sản lƣợng mỏ khi nghiên cứu khai mỏ ở Lào Cai.
Năm 1958, tác giả Nguyễn Khắc Đạm công bố công trình Những thủ đoạn bóc lột của tư bản Pháp ở Việt Nam (Nxb Văn Sử Địa, Hà Nội). Trên nền chung về ngành khai mỏ, tác giả bƣớc đầu làm rõ sự phát triển của công nghiệp khai thác khoáng sản nhƣ than, kim loại của thực dân Pháp ở nƣớc ta. Từ công trình này, Luận án đƣợc kế thừa một số tƣ liệu đáng tin cậy về nguồn vốn đầu tƣ, địa bàn khai thác mỏ than chì của thực dân Pháp, phốt phát của Nhật ở Lào Cai Dƣới góc độ một chuyên khảo, công trình Chủ nghĩa đế quốc Pháp tình hình công nghiệp ở Việt Nam dưới thời thuộc Pháp (Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, năm 1959) của tác giả Phạm Đình Tân đã phác họa một cách rõ nét về nguồn tài nguyên khoáng sản của nƣớc ta. Tác giả khẳng định đây là một trong những cơ sở quan trọng hình thành ngành công nghiệp khai thác mỏ của thực dân Pháp ở Việt Nam vào cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX.
Từ kết quả nghiên cứu về chính sách, phƣơng hƣớng phát triển, quá trình tuyển mộ và sử dụng nhân công trong công nghiệp khai thác mỏ của thực dân Pháp, tác giả rút ra một số tác động của ngành công nghiệp mỏ đến kinh tế - xã Việt Nam trƣớc năm 1945. Ngoài ra, tác giả đã cung cấp những thông tin quan trọng về mỏ apatit, than chì ở Lào Cai: Mỏ Apatít Lào Cai: ở Lào Cai có mỏ A-pa-tít rất quan trọng. Sản phẩm có thể chế thành Xuy-pephốt-phát (Super-phosphate) cho nông dân bón ruộng… Từ năm 1933, bọn tƣ bản Pháp bắt đầu chú ý mỏ apatile lớn ở Lào Cai, nhƣng cho đến 1939 chúng vẫn không tổ chức khai thác gì. Chỉ có từ 1940, sau khi ngƣời Nhật xâm nhập Đông Dƣơng, tƣ bản Nhật - Pháp mới bắt đầu khai thác để đƣa apatile về Nhật chế thành Xuy-pephốt- phát.
Còn việc Xuy-pephốt-phát trên đất nƣớc ta thì chúng không bao giờ nghỉ đến; Hoặc than chì có ở Lào Cai, có thể dùng vào công nghiệp luyện kim [88, tr. 9 Từ năm 1961-1963, tác giả Trần Văn Giàu chủ biên tập “Lịch sử Việt Nam cận đại”. Trong tập II, các tác giả nêu khái quát về công nghiệp mỏ của ngƣời Pháp ở Việt Nam nhƣng chủ yếu là khai thác mỏ ở Hồng Gai, Cái Bầu, Yên Bái… Trong tập III, nêu lên một số mỏ kim khí của ngƣời Pháp phát hiện và bắt đầu khai thƣợng ở vùng Thƣợng du Bắc Kỳ từ năm 1900 đến 1909. Tập IV, các tác giả thống kê số lƣợng giấy phép đi tìm mỏ từ năm 1924 đến 1929.
Những tƣ liệu liệu này là cơ sở quan trọng cho tác giả khi nghiên cứu về bể than Lào Cai hoặc có hay không hoạt động khai mỏ ở Lào Cai trong trong 10 năm (1900 – 1909) và Lào Cai có bao nhiêu giấy phép tìm kiếm mỏ (1924 – 1929). Công cuộc khai thác thuộc địa nói chung và sự hình thành ngành công nghiệp khai thác mỏ nói riêng của thực dân Pháp góp phần dẫn đến sự hình thành đội ngũ công nhân mỏ Việt Nam. Chiếm số đông trong giai cấp công nhân Việt Nam, công nhân mỏ đóng vai trò quan trọng trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc trƣớc Cách mạng tháng Tám năm 1945. Về vấn đề này, Trần Văn Giàu có tác phẩm Giai cấp công nhân Việt Nam (Nxb Sử học, 1962).
Trong tác phẩm này, tác giả đã chỉ rõ sự ra đời và phát triển của phong trào công nhân Việt Nam thời kì Pháp thống trị. Phong trào Công nhân mỏ Lào Cai đƣợc đề cập đến ở góc độ thủ đoạn bóc lột của thực dân Pháp trong các hầm mỏ ở Bắc Kỳ. Năm 1963, trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 51, 52, 53 tác giả Phan Huy Lê có bài viết Tình hình khai mỏ dưới triều Nguyễn.