CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG VE KHOÁNG SAN VIỆT NAM 1.Khái niệm và phân loại khoáng sản Việt Nam 1.Khái niệm Luật khoáng sản 20.1996 định nghĩa: Khoáng san là tài nguyên trong lòng đất, trên mặt đất dưới dạng những tích tụ tự nhiên, khoáng vật, khoáng chất ở thê rắn, thể lỏng, thể khí, hiện tại hoặc sau này có thê được khai thác. Khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ mà sau này có thê khai thác được cũng được coi là khoáng sản. Khoáng sản là tài nguyên hau hết không tái tạo được, là tài sản quan trọng của quốc gia, phải được quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển bền vững kinh tế - xã hội trước mat và lâu đài, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Khoáng sản có thé tồn tại ở trạng thái rắn (quặng, da), long (dầu, nước khoáng.
Khoáng sản cũng có thê hiểu là nguồn nguyên liệu tự nhiên có nguồn gốc vô cơ hoặc hữu cơ, tuyệt đại bộ phận nằm trong lòng đất và quá trình hình thành có liên quan mật thiết đến quá trình lịch sử phát triển của vỏ trái đất trong thời gian dài từ hàng ngàn năm đên hàng chục, hàng trăm triệu năm.Phân loại Theo chức năng sử dụng, khoáng sản được phân làm ba nhóm lớn e Khoáng sản kim loại Nhóm khoáng sản sắt và hợp kim sắt: sắt, mangan, crom, vanadi, niken, molipden,vonfram, coban Nhóm kim loại cơ bản: thiếc, đồng, chì, kẽm, antimoan Nhóm kim loại nhẹ: nhôm, titan, berylly Nhóm kim loại quý hiếm: vàng, bac, bạch kim Nhóm kim loại phóng xạ: uran, thor1 Nhóm kim loại hiém va dat hiêm SV: Hồ Thị Hà Mai Lớp : Thống kê 48 Chuyên đề tốt nghiệp 4 e Khoáng sản phi kim loại Nhóm khoáng sản hoa chất và phân bón: apatit, photphorit, barit, flourit, muối mỏ, thạch cao, S (pirit, prontin.), spectin Nhóm nguyên liệu sứ, gốm, thủy tính chịu lửa, bảo ôn: sét — kaolin, magnezit, fenspat, diatomit. Nhóm nguyên liệu kỹ thuật: kim cương, grafit, thạch anh, mica, tan, atbet, zeolit Vật liệu xây dựng: đá macma va biến chất, đá vôi, đá hoa, cát sỏi e Khoáng sản cháy: than (than đá, than nâu, than bùn), dau khí (dau mỏ, khí đốt, đá dầu 1.Tiềm năng khoáng sản Việt Nam Việt Nam nằm trong bán đảo Đông Dương, thuộc vùng Đông Nam châu Á. Lãnh thé Việt Nam chạy dọc bờ biển phía đông của bán đảo này. Ngoài ra, Việt Nam khăng định hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc lãnh thổ của mình.
Việt Nam có biên giới đất liền với Trung Quốc (1281 km), Lào (2130 km) và Campuchia (1228 km) và bờ biển dài 3444 km tiếp giáp với vịnh Bắc Bộ, biển Đông và Vịnh Thái Lan Việt Nam có diện tích 329314 km”, bao gồm khoảng 327480 km” đất liền và hon 4200 km” biển nội thủy, với hơn 4000 hòn đảo, bãi đá ngầm lớn nhỏ, gan và xa bờ, có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục dia được Chính phủ Việt Nam xác định gần gấp ba lần diện tích đất liền khoảng trên 1 triệu km2. Địa thế có những đồi và những núi đầy rừng, trong khi đất phăng che phủ khoảng it hơn 20%. Núi rừng chiếm độ 40% , đồi 40%, và độ che phủ khoảng 75%. Miền Bắc gồm có cao nguyên va vùng châu thổ sông Hồng.
Miền Trung là phần đất thấp ven biển, những cao nguyên theo dãy Trường Sơn, và miền Nam là vùng châu thé sông Cửu Long. Điểm cao nhất Việt Nam là 3143m, tại đỉnh Phan Xi Pang, thuộc dãy Hoàng Liên Sơn. Diện tích đất canh tác chiếm 17% tông điện tích đất Việt Nam. Việt Nam có khí hậu nhiệt đới ở miền Nam với hai mùa (mùa mưa, từ giữa tháng 5 đến giữa tháng 9, và mùa khô , từ giữa tháng 10 đến giữa tháng 3) và khí hậu gió mùa ở miền Bắc với bốn mùa rõ rệt (mùa xuân, mua hẻ, mua thu và mùa đông).
Do nằm doc theo bờ biển, khí hậu Việt Nam được điều hòa một phan bởi SV: Hồ Thị Hà Mai Lớp : Thống kê 48 Chuyên đề tốt nghiệp 5 các dòng biển và mang nhiều yếu tố khí hậu biển. Độ âm tương đối trung bình là 84% suốt năm. Hàng năm, lượng mưa từ 1200 đến 3000 mm. Việt Nam có nhiều mỏ khoáng sản trên đất liền, rừng tự nhiên và một số mỏ dầu, khí, quặng khoáng sản ngoài khơi.
Nam ở khu vực Đông Nam A, Việt Nam là nước có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, đa dạng, là nguồn nguyên liệu, tiềm năng quý của quốc gia. Qua kết quả điều tra địa chất, thăm dò khoáng sản đã phát hiện gần 5000 mỏ và điểm quặng với 60 loại khoáng sản khác nhau. Công nghiệp khai thác khoáng sản ở Việt Nam mặc dù chưa phát triển nhưng cũng đã góp một phần quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước, góp phần đây nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Từ năm 1955 đến nay, các nhà địa chất Việt Nam đã tiến hành điều tra, tìm kiếm, thăm dò và phát hiện mới trên 5000 điểm khoáng và mỏ, đã đánh giá được một số loại khoáng sản có giá trị công nghiệp như: dầu khí, than, apatit, sắt, đồng, nhôm, chì kẽm, thiếc, các khoáng sản làm vật liệu xây dựng, gốm sứ, thủy tinh và nhiều loại khoáng sản khác.
Đến nay, ngành địa chất Việt Nam đã hoàn thành công tác lập bản đồ địa chất và tìm kiếm khoáng sản trên toàn bộ lãnh thổ (phần đất liền) ở tỷ lệ 1/500000 và 1/200000. Ngoài ra, việc điều tra, thăn đò dầu khí, các mỏ sa khoáng thiếc, vàng, titan, đất hiếm. ở vùng thêm lục địa và ngoài khơi cũng đã và đang được tiễn hành. e Dau khí Dau khi da duoc phát hiện ở Việt Nam từ những năm 1970, nhưng chi sau năm 1984, ngành công nghiệp dầu khí mới thực sự có bước đi vững chắc, ngày càng góp nhiều vào việc tăng trưởng xuất khâu của cả nước.
Dầu khí được tập trung ở các bê trầm tích Sông Hồng, Cửu Long, Nam Côn Sơn, Malay, Thổ Chu, Phú Khánh, Tư Chính, Vũng Mây, Trường Sa. Đến nay đã có hơn 37 hợp đồng hợp tác kinh doanh được ký kết giữa Petro Vietnam và các đối tác nước ngoài nhằm thăm dò, khai thác dầu khí ở thềm lục địa Việt Nam. Tổng diện tích các lô đã được ký hợp đồng thăm dò vào khoảng 250000 km”, chiếm 50% tổng diện tích thềm lục địa Việt Nam. Qua kết quả thăm dò cho thấy : bể Sông Hồng chủ yếu là khí, bé Cửu Long chủ yếu phát hiện dau, hai bể còn lại là Nam Côn Son SV: Hồ Thị Hà Mai Lớp : Thống kê 48 Chuyên đề tốt nghiệp 6 và Malay — Thổ Chu phát hiện cả dầu và khí.
Bé Phú Khánh và Tư Chính — Vũng Mây mới chỉ dy báo triển vọng trên cơ sở nghiên cứu cấu trúc dia chất. Khoáng sản dầu khí dang được thăm đò với cường độ cao. Trữ lượng dầu đã được phát hiện vào khoảng 1,7 ty tấn và khí đốt khoảng 835 tỷ mỶ. Trữ lượng dầu được dự báo vào khoảng 6 tỷ tấn và trữ lượng khí vào khoảng 4000 tỷ mỉ.
Tháng 6 năm 2000, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Dầu khí sửa déi, cùng với Luật Dau tư nước ngoài và với những điều kiện địa chất thuận lợi, Việt Nam bắt đầu có những vị trí xứng đáng thu hút sự chú ý của các công ty dầu khí lớn trên thế giới để cùng hợp tác, phát triển và mở rộng hoạt động của mình. e Than Than Việt Nam được hình thành ở 8 thời kỳ khác nhau: Devon giữa va muộn; Carbon sớm và giữa; Permi muộn; Trias giữa; Trias muộn; Jura sớm; Neogen và Đệ tứ. Chỉ có than được hình thành ở Trias muộn và Neogen là có giá trị kinh tế cao nhất. Than có giá trị kinh tế được tập trung ở Triasic muộn va được tập trung chủ yếu ở bé than Quảng Ninh thành các vùng như: Cam Phả, Dương Huy, Hòn Gai, Uông Bi, Bao Đài chiếm 90% trữ lượng, bé than Sông Đà ở miền Bắc và bé than Nông Sơn ở miền Trung Việt Nam.
Tổng trữ lượng ước tính của than Triasic muộn là 6,6 tỷ tắn. Nguồn tài nguyên than nâu ở vùng châu thổ Bắc Bộ với trữ lượng dự báo gần 200 tỷ tan, nhưng rất khó khăn cho thăm dò và khai thác vì dudi độ sâu từ 200 đến hơn 4000m dưới đồng bằng. Hiện nay, sản lượng than khai thác đạt khoảng 15 triệu tấn. Than đã được xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới.
e Nang lượng địa nhiệt Hàng trăm điểm nước khoáng nóng đã được phát hiện ở Việt Nam. Hơn một nửa là những suối nước nóng. Chúng được tập trung ở Tây Bắc Bộ với hơn 72 nguồn có nhiệt độ tương đối cao (41°C-600°C), 36 nguồn có nhiệt độ rất cao ( 61°C-1000°C) và 64 nguồn nước ấm (30°C-40°C) e Sắt, Bauxit, Thiếc va Vàng Sắt SV: Hồ Thị Hà Mai Lớp : Thống kê 48 Chuyên đề tốt nghiệp 7 Cho đến nay trên lãnh thé Việt Nam đã ghi nhận được hon 300 mỏ và điểm quặng sắt, chủ yếu tập trung ở phía bắc như: Yên Bái, Cao Bằng, Thái Nguyên, Hà Giang, Ha Tinh. So sánh với bang phân loại trữ lượng hiện đang được sử dụng ở một số nước đang phát triển và phát triển trong khu vực, Việt Nam có hai mỏ thuộc loại trữ lượng trung bình là Thạch Khê và Quý Xa.
Mỏ sắt Thạch Khê là mỏ có trữ lượng lớn nhất đã được thăm dò. Mỏ nằm ven biển, cách Hà Tĩnh 7km. Qua phân tích hóa học cho thấy kết quả sau: Fe= 61,35%; Mn=0,207%, Si0.=5,4%; Al,03=1,79%; CaO=0,86%; MgO=1,20%; Ti0,=0,27%; P=0,04% và S=0,148%. Trữ lượng của mỏ Thạch Khê là 544 triệu tấn.
Mỏ có thé khai thác lộ thiên với chiều sâu đến -120m so với mặt nước biên. Mỏ sắt thứ hai ở Việt Nam là mỏ sắt Quý Xa với trữ lượng 119 triệu tấn. Mỏ nằm ở bờ phải Sông Hồng thuộc tỉnh Lào Cai. Phân tích hóa học cho kết quả như sau: Fe=54-55%, Mn=3%; Al,O3=1,7-3%, SIOs=l,7%, Cao=0,25% và S=0,025%.
Bauxit Các mỏ va điểm quặng bauxit Việt Nam phân bố chủ yếu ở đông Bắc Bộ và phía nam. Xét về nguồn gốc, quặng bauxit thuộc 2 loại chính là trầm tích (một số bị biến chất) và phong hóa aterit từ đá bazan. Các mỏ thuộc nguồn gốc trầm tích phân bố chủ yếu ở các tỉnh Cao Bang, Lạng Sơn, Hà Giang, Hải Dương, Nghệ An. Trong số này cụm mỏ ở Lạng Sơn có quy mô trữ lượng lớn, chất lượng tốt và có giá trị công nghiệp.
Cụm mỏ Lạng Sơn có 36 mỏ và điểm quặng chủ yếu thuộc loại eluvi-deluvi.