CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG. Một số vấn đề về doanh nghiệp và doanh nghiệp xây dựng 1. Khái niệm doanh nghiệp và doanh nghiệp xây dựng. Khái niệm doanh nghiệp Hiện nay có nhiều cách định nghĩa khác nhau về doanh nghiệp.
Mỗi định nghĩa về doanh nghiệp mang một nội dung và ý nghĩa nhất định. Theo Luật doanh nghiệp của nước ta: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh”[12] Xét theo quan điểm chức năng thì : “Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức sản xuất mà tại đó người ta kết hợp các yếu tố sản xuất (có sự quan tâm giá cả của các yếu tố) khác nhau do các nhân viên của công ty thực hiện nhằm bán ra trên thị trường những sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ để nhận được khoản tiền chênh lệch giữa giá bán sản phẩm với giá thành của sản phẩm ấy.” Một số tác giả khác lại nêu lên khái niệm doanh nghiệp đại ý như sau: Doanh nghiệp là một hệ thống bao gồm những con người và thiết bị máy móc được tổ chức hoạt động nhằm thoả mãn một mục đích nhất định về kinh tế. Đó là việc đảm bảo cân bằng thu chi và khả năng sinh lợi của đồng vốn đầu tư của chủ sở hữu, bảo đảm tương lai phát triển của doanh nghiệp.[14] Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, mà ở đó trên cơ sở một số lượng tài sản nhất định, người ta tiến hành kết hợp tối ưu các yếu tố đầu vào của qúa trình sản xuất, kinh doanh nhằm tạo ra sự chênh lệch giữa giá bán và chi phí sản xuất kinh doanh để thu lợi nhuận.[14] Doanh nghiệp là một tổ chức thực hiện các hoạt động như sản xuất, mua bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng nhằm mục đích tạo ra lợi nhuận.[14] 6 Với những quan điểm trên ta thấy khó có thể đạt được một định nghĩa hoàn chỉnh về doanh nghiệp và mỗi cách định nghĩa chỉ có thể nói lên mức độ đầy đủ khác nhau. Do đó, trong phạm vi đề tài này, tác giả sử dụng định nghĩa dựa trên luật doanh nghiệp đã ban hành.
Khái niệm doanh nghiệp xây dựng Doanh nghiệp xây dựng là doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, được thành lập theo quy định của pháp luật, có đăng ký kinh doanh về xây dựng. Doanh nghiệp xây dựng có trách nhiệm đăng ký hoạt động kinh doanh của mình tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Doanh nghiệp xây dựng chịu trách nhiệm trước pháp luật và chủ đầu tư về các nội dung đã cam kết trong hợp đồng, bao gồm cả số lượng, chất lượng, tính chất chính xác của sản phẩm, thời gian thực hiện hợp đồng. Đồng thời phải có quy định và hướng dẫn sử dụng công trình trước khi bàn giao, thực hiện bảo hành chất lượng sản phẩm xây dựng và công trình xây dựng của mình.
Ngoài ra doanh nghiệp xây dựng phải thực hiện chế độ bảo hiểm công trình xây dựng, chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi liên quan đến an toàn của các công trình lân cận và công trình đang xây dựng; thực hiện an toàn lao động, bảo vệ môi trường sinh thái trong quá trình xây dựng; thông tin rộng rãi về năng lực hoạt động của doanh nghiệp để chủ đầu tư biết và lựa chọn. Phân loại doanh nghiệp xây dựng. Phân theo tính chất sở hữu tài sản Doanh nghiệp chỉ có một chủ sở hữu: DN Nhà nước, DN tư nhân, công ty TNHH một thành viên. Doanh nghiệp nhà nước là loại hình doanh nghiệp thuộc sở hữu toàn dân, được thành lập bằng vốn nhà nước, có vai trò quan trọng trong việc điều tiết nền kinh tế hoạt động theo định hướng của Nhà nước.
Theo luật doanh nghiệp nhà nước định nghĩa: DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nuớc đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước giao.[7] 7 Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ, tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp và không có tư cách pháp nhân.[7] DN có nhiều tổ chức và có nhiều người đồng sở hữu: Công ty cổ phần, Công ty TNHH có hai thành viên trở lên, công ty hợp danh, hợp tác xã. Công ty cổ phần là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân và chịu trách nhiệm hữu hạn. Các cổ đông của công ty chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty.[7] Công ty TNHH có hai thành viên trở lên là doanh nghiệp có hình thức sở hữu chung của các thành viên. Số thành viên của công ty phải từ hai trở lên và có thể là cá nhân hay pháp nhân.
Công ty này là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân và chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi vốn điều lệ của doanh nghiệp.Thành viên hợp danh phải có trình độ chuyên môn, uy tín nghề nghiệp và chịu trách nhiệm toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Trong khi đó thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp của công ty.[7] Hợp tác xã là một tổ chức kinh tế tự chủ do những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra và hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc công ích theo đúng quy định của pháp luật. Phân loại theo quy mô doanh nghiệp Quy mô của doanh nghiệp được coi là lớn hay bé thực ra phụ thuộc vào mối tương quan của các doanh nghiệp của mỗi nước. Theo điều 3 Nghị định 56/2009/NĐ-CP của Chính Phủ, doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: Siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn hoặc số lao động bình quân năm được thể hiện ở bảng 1.1: Tiêu chí phân loại quy mô doanh nghiệp ở Việt Nam DN siêu nhỏ DN nhỏ DN vừa Quy mô Vốn Lao động Vốn Lao động Lao động Khu vực (tỷ) (người) (tỷ) (người) 1.
KV nông, lâm nghiệp, ≤ 10 ≤ 20 10 - 200 20 - 100 200 - 300 thủy sản 2. KV công nghiệp -XD ≤ 10 ≤ 20 10 - 200 20 - 100 200 - 300 3. Khu vực dịch vụ ≤ 10 ≤ 10 10 - 50 20 - 50 50 - 300 Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 1. Phân theo trách nhiệm pháp lý Theo trách nhiệm pháp lý, doanh nghiệp xây dựng gồm: Doanh nghiệp có trách nhiệm pháp lý vô hạn là doanh nghiệp tư nhân.
Chủ doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.[7] Doanh nghiệp có trách nhiệm pháp lý hữu hạn gồm Công ty cổ phần, công ty TNHH. Mỗi thành viên của doanh nghiệp chịu trách nhiệm về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn góp của mình.[7] Doanh nghiệp có trách nhiệm pháp lý hỗn hợp là công ty hợp danh. Vì thành viên hợp danh sẽ chịu trách nhiệm toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Còn thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã đóng góp vào công ty.
Phân theo ngành kinh tế Doanh nghiệp xây dựng công trình nhà cửa: Các doanh nghiệp này có hoạt động xây dựng chủ yếu tập trung vào các công trình nhà ở, nhà không để ở.[11] Nhà ở là nhà cho một gia đình và nhà cho nhiều gia đình bao gồm cả tòa nhà cao tầng. Nhà ở bao gồm nhà ở chung cư và nhà ở riêng lẻ. Nhà không để ở là nhà dành cho sản xuất công nghiệp (nhà máy, xưởng sản xuất.); Nhà dùng cho thương mại (trung tâm thương mại, siêu thị, chợ, cửa hàng, nhà hàng ăn uống giải khát, nhà kho, nhà ga, bãi đổ xe.); công trình giáo dục (nhà 9 trẻ, trường học.); Công trình y tế (bệnh viện, phòng khám, trạm y tế.); Công trình thể thao trong nhà; Công trình văn hóa; Công trình thông tin truyền thông; Nhà đa năng, khách sạn, ký túc xá, nhà khách, nhà nghỉ, trụ sở làm việc. Doanh nghiệp xây dựng công trình dân dụng: Là các doanh nghiệp xây dựng chủ yếu các công trình lớn như đường ô tô, đường phố, cầu cống, đường sắt, sân bay, cảng và các dự án thủy lợi khác, hệ thống thủy lợi, các công trình công nghiệp, đường phố và đường điện, các khu thể thao ngoài trời.[11] Doanh nghiệp có hoạt động xây dựng chuyên dụng:Là các doanh nghiệp xây dựng các công trình đặc biệt đáp ứng mục tiêu sử dụng, khai thác riêng.
So với các công trình khác đòi hỏi thiết bị và trình độ tay nghề đựơc chuyên môn hóa như: Đóng cọc, san nền, đổ khung, đổ bê tông, xếp gạch, xây ốp đá.; Hoạt động lắp đặt các trang thiết bị mà chức năng xây dựng phải làm như hoạt động thăm dò, lắp đặt hệ thống sưởi hoặc làm mát, thông gió, đặt ăngten, chuông báo động, cầu thang máy, hệ thống cháy nổ, chiếu sáng.Hoạt động hoàn thiện công trình liên quan tới việc hoàn thiện hoặc kết thúc một công trình như lắp kính, trát vữa, quét vôi, trang trí, kiến trúc âm thanh, làm sạch ngoại thất. Lý luận về hiệu quả sản xuất kinh doanh 1. Khái niệm hiệu quả sản xuất kinh doanh Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đạt kết quả cao nhất trong hoạt động sản xuất kinh doanh với chi phí thấp nhất. Hiệu quả sản xuất kinh doanh không chỉ là thước đo trình độ tổ chức quản lý kinh doanh mà còn là vấn đề sống còn của doanh nghiệp.
Tuy nhiên cùng với sự phát triển của lịch sử và với những góc độ nghiên cứu khác nhau, xuất hiện những quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh doanh như sau: Theo quan điểm của Adam-Smith cho rằng: “Hiệu quả sản xuất kinh doanh là kết quả đạt được trong hoạt động sản xuất kinh doanh là doanh thu tiêu thụ hàng hoá”[9]. Ở đây hiệu quả đồng nhất với chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh.